Friday, September 18, 2020

Điển tích - TH

TH

THA HƯƠNG 

Tha: Khác. Hương: Làng.

Tha hương tức là nơi đất khách quê người, chẳng phải làng sinh sống của mình.



Tấc lòng cố quốc tha hương,

Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.

(Truyện Kiều).



THA HƯƠNG NGỘ CỐ 

Tha hương: Đất khách, xứ người. Ngộ cố: Gặp lại bạn cũ.

Tha hương ngộ cố nghĩa là nơi xứ người tình cờ gặp lại bạn xưa.



Rằng: Xin quý hữu tạm vào,

Tha hương ngộ cố biết bao là mừng.

(Nữ Tú Tài).



THẢ LÁ DOÀNH CÂU

Do tích: Vu Hựu đời Đường nhặt được chiếc lá đỏ trong dòng ngự câu trôi ra, có đề bài thơ rằng: Lưu thủy hà thái cấp, thâm cung tận nhật nhàn, ân cần tạ hồng diệp, hảo khứ đáo nhân gian  , . , , nghĩa là nước chảy sao vội quá, trong cung sâu trôi suốt ngày, ân cần từ giã chiếc lá đỏ, hãy đi tới nhân gian cho tốt. Vu Hựu cũng đề một bài thơ vào chiếc lá khác thả trên giòng nước cho trôi vào cung. Cung nữ là Hàn Thúy Tần nhặt được cất đi. Mười năm sau nhà vua có dịp thải cung nữ, tình cờ Vu Hựu cùng Hàn Thúy Tần kết duyên với nhau, cùng đem chiếc lá đỏ có đề thơ khi trước ra coi, té ra chiếc lá đề thơ là người mối Thuý Tần có thơ rằng: Nhất liên thi cú tuỳ lưu thuỷ, thập tải ưu tư mãn tố hoài, kim nhật đô thành loạn phượng hữu, phương tri hồng diệp thị lương môi  , 滿 . , , nghĩa là một tập câu thơ theo nước chảy, nỗi nhớ thầm chứa chất trong lòng mười năm, ngày nay đều thành bạn loan phượng, mới biết lá đỏ là người mối tốt.

Xem: Hồng diệp.

Trông hoa lặng ngắt giờ lâu,

Ấy ai thả lá doành câu ghẹo người.

(Bích Câu Kỳ ngộ).



THẢ LÁ HỒNG

Do tích cung nữ Hàn Thúy Tần và Vu Hựu đề thơ trên lá hồng, thả xuống dòng nước, trao đổi cho nhau. Sau Hai người tình cờ kết duyên nhau, cho chiếc lá hồng đã làm mối. Xem: Lá hồng.



Suối tần tuy hãy còn không,

Dòng câu trót thả lá hồng đôi nơi.

(Ngọc Kiều Lê).



Trông tin nhạn về đông mòn mỏi,

Thả lá hồng biết hỏi nơi ai?

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

THÁC CÔ 

Thác: Gởi gắm. : Con mồ côi.

Khi một vị hoàng đế sắp mất, gởi gắm đứa con lại cho người nào trông nôm gọi là “Thác cô”.



Tam Kha là đứa gian hồi,

Lấy bè thích lý chịu lời thác cô.

(Quốc Sử Diễn Ca).



Sao cho xã tắc điện an,

Ấy là chẳng phụ Tiên hoàng thác cô.

(Hạnh Thục Ca).



THÁCH CHÀY ĐÂM THUỐC

Ý nói mẹ nàng Vân Anh thách Bùi Hàng phải tìm được cây chày bằng ngọc để mang về đâm thuốc trường sinh thì mới gả Vân Anh cho.

Xem: Cầu Lam.

Cô tiên thách mực chày đâm thuốc,

Lộng Ngọc xin làm bạn thổi tiêu.

(Hồng Đức Quốc Âm).



THẠCH KIỀU 

Thạch: Đá. Kiều: Cây cầu.

Thạch kiều là cây cầu bằng đá.



Nước trong vắt, cỏ xanh rì,

Thạch kiều thấy đó giai kỳ nào đâu?

(Bích Câu Kỳ Ngộ).



THẠCH KIM 

Thạch kim tức đá vàng, là hai loại vật cứng rắn, vững bền, nên được dùng để ví với sự vững chãi, lòng trung thành.

Xem: Đá vàng.

Dương Từ bước tới xem chơi,

Gẫm ba câu hát, thật lời thạch kim.

(Dương Từ Hà Mậu).



Chẳng ra tài sao biết thạch kim,

Có thử sức mới tường vàng đá.

(Nhạc Hoa Linh).



THẠCH KHÁNH 

Thạch: Đá. Khánh: Một thứ nhạc khí bằng đá hoặc bằng kim khí, có hình dẹp, treo lên một cái giá để đánh.

Thạch khánh là cái khánh bằng đá.



Rỗi mộc ngư diễn kệ sớm khuya;

nương thạch khánh phần hương trưa tối.

(Sãi Vãi).



THẠCH SÙNG 

Thạch Sùng người đời Tấn, tự là Quý Luân, tư chất thông minh, nhiều mưu trí ngay từ thuở nhỏ. Năm 20 tuổi, Sùng làm quan lệnh Tu Vũ, rồi Thái thú Thành Dương. Đến đời Tấn Vũ Đế, Thạch Sùng làm Thứ sử Kinh Châu, nhờ hay giúp bọn thương khách mà trở nên giàu có, cùng với Vương Khải, Dương Tú kết bạn, chuộng sự xa hoa, ăn tiêu xa xỉ.

Thạch Sùng có xây riêng một cái biệt thự Kim Cốc, cực kỳ tráng lệ để dành cho người thiếp yêu, xinh đẹp là Lục Châu ở. Tôn Tú, gia thần của Triệu Vương Luân cho người đến cướp Lục Châu, Lục Châu nhảy từ lầu cao xuống đất tự tử, không chịu về với Tôn Tú. Tôn Tú tức giận Thạch Sùng mới gièm với Triệu Vương Luân rằng Sùng có chí làm phản, nên cả nhà Sùng đều bị hại.

Tương truyền, Thạch Sùng sau khi bị giết chết hoá ra con thằn lằn, vì tiếc của, nên suốt ngày cứ chắc lưỡi.



Đôi ba quan em nghĩ là giàu,

Thạch Sùng Vương Khải còn đâu đến giờ.

(Ca Dao).



Trong làng có một phú ông,

Gia tư đọ với Thạch Sùng kém đâu.

(Quan Âm Thị Kính).



Thạch Sùng tắc lưỡi lắc đầu,

Nhân sinh rất mực hoà giàu hoà sang.

(Truyện Trinh Thử).



Sãi muốn nói một chuyện:

Vi phú bất nhơn,

Sãi lại sợ anh Thạch Sùng trách rằng:

khéo thổi lông mà tìm vít.

(Sãi Vãi).



THẠCH TẤN 

Tức là Thạch Kỉnh Đường, là con rể vua Minh Tông nhà Hậu Đường. Khi quân Khiết Đan xâm phạm miền nam, Kỉnh Đường dẫn quân Khiết Đan vào diệt nhà Hậu Đường. Khiết Đan lập Kỉnh Đường lên làm vua, lấy quốc hiệu là Tấn, sử gọi Hậu Tấn.

Thạch Tấn lên ngôi vua vào năm 936, trong thời gian trị vì, ông đã cắt 16 châu đất U, Kế dâng cho mọi Khiết Đan, khiến người dân trong đất ấy bỏ đi tất cả.

Kể từ Thạch Tấn ở ngôi,

U, Yên mấy quận cắt bồi Khiết Đan.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



THAI DỰNG 

Thai: Có thai chưa đến ngày sinh. Dựng: Cũng có mang, có bầu.

Thai dựng tức là người có mang, có chửa.



Kể từ lúc hãy còn thai dựng,

Đến những khi nuôi nấng giữ giàn.

(Gia Huấn Ca).



THAI SẢN 

Thai: Có thai chưa đến ngày sinh. Sản: Đẻ.

Thai sản tức là bào thai chưa đến ngày sinh.



Khi thai sản trong phòng gìn giữ,

Học cổ nhân huấn tử trong thai.

(Gia Huấn Ca).



Tới khi thai sản thành hình,

Xuống ao Trê đẻ đem mình thoát xong..

(Truyện Trê Cóc).



THÁI A 

Một trong hai cây gươm báu do Lôi Hoán đời nhà Tấn tìm được ở huyện Phong Thành.

Tấn Thư chép: Trương Hoa xem thiên văn thấy có khí tím sáng chói ở giữa khoảng sao Đẩu, bèn hỏi Lôi Hoán, Hoán đáp rằng: Đó là khí thiêng của gươm báu chiếu lên.

Về sau, Hoán tìm đến huyện Phong Thành đào ở nơi nhà ngục được cái hòm đá trắng đựng hai thanh kiếm đề là Long Tuyền kiếm và Thái A kiếm ở dưới đất bốn trượng sâu.

Xem: Long tuyền.

Bây giờ Thục chúa tỉnh ra,

Dứt tình phó lưỡi Thái a cho nàng.

(Quốc Sử Diễn Ca).



THÁI BẠCH 

A.- Tên một ngôi sao buổi sớm mọc ở phương đông, tục gọi là sao mai. Sao Thái bạch còn gọi là sao Khải minh hoặc Kim tinh, là một trong tám hành tinh của Thái dương hệ. Chỉ ngôi vua.



Một phút mây che vùng Thái bạch,

Trong sáu cung thoắt đã lạt hơi dương.

(Văn Tế Vua Quang Trung).



B.- Tên một đại thi hào nước 
Trung Hoa, Lý Thái Bạch sinh vào năm 702 đời vua Trần Huyền Tông nhà Đường. Do Mẹ ông nằm mộng thấy sao Trường canh hay sao Thái Bạch Kim Tinh sa xuống mình, nên đặt tên là Lý Thái Bạch, gọi tắt là Lý Bạch. Xem: Lý Bạch.

Linh Tiêu Thái Bạch Trường Canh,

Truyền tâu Đế Khuyết dữ lành nhơn gian.

(Xưng Tụng Công Đức).



Ánh Thái Cực biến sanh Thái Bạch,

Hiện Kim Tinh trọng trách Linh Tiêu.

(Đạo Sử).



THÁI BÀN 

Thái: Chỉ núi Thái sơn. Bàn: Tức bàn thạch, là tảng đá lớn.

Thái bàn ý muốn nói chắc chắn, bền vững như núi Thái sơn và tảng đá lớn.



Giữa trời chúa thánh nối ngôi càn,

Chín vạc xây nền vững Thái bàn.

(Lâm Tuyền Kỳ Ngộ).



THÁI BÌNH 

Thái: Rất. Bình: Yên ổn.

Thái bình đồng nghĩa với chữ thanh bình, chỉ cảnh đất nước yên ổn.



Dõi truyền một mối xa thư,

Nước non đầm ấm mây mưa thái bình.

(Quốc Sử Diễn Ca).



Dân vui cõi thọ đài xuân,

Sáu mươi năm lẻ, hưu trưng thái bình.

(Hạnh Thục Ca).



Thái bình trăm họ nhìn chơn Chúa,

Thạnh trị ba châu trổ trí Thần.

(Đạo Sử).



Còn chi hai chữ thái bình.

Ngửa nghiêng chín bệ, gập ghình ba châu.

(Ngụ Đời).



THÁI CÔNG 

Tức Thái Công Vọng tự Tử Nha, tên chữ là Lữ Vọng. Thái Công là một vị hiền thần của vua Văn Vương, họ Khương tên Thượng, câu ở bờ sông Vị, vua Văn Vương mới rước về giúp nước. Sau Thái Công phò Võ Vương diệt Trụ, lập nên công lớn.

Xem: Tử Nha.

Thái Công xưa một cần câu,

Hôm mai sông Vị mặc dầu vui chơi.

(Lục Vân Tiên).



THÁI CỰC 

Theo Dịch học, lúc trời đất chưa phân định, còn trong thời kỳ hỗn độn thì ngôi Thái cực xuất hiện, Thái cực mới sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái.

Trong hệ từ của Dịch có nói: Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái  , , , , nghĩa là Dịch có Thái cực, Thái cực sinh Hai nghi. Hai nghi sinh Bốn tượng, Bốn tượng sinh Bát Quái.

Môn rằng: Khí bẩm trong mình,

Gốc trong Thái cực sinh thành người ra.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



Đến tuần Thái cực bĩ sinh,

Bị người Trung quốc đánh giành lần sang.

(Hạnh Thục Ca).



Ánh Thái Cực biến sanh Thái Bạch,

Hiện Kim Tinh trọng trách Linh Tiêu.

(Đạo Sử).



THÁI CỰC BĨ SINH 

Thái cực: Vận thái (Vận mệnh tốt) đến cùng cực. Bĩ sinh: Vận bĩ (Vận mệnh xấu) bắt đầu sinh.

Theo nguyên lý của Dịch học “Thiên địa tuần hoàn châu nhi phục thuỷ  , ”, tức trời đất xoay vần, giáp vòng rồi trở lại ban đầu. Vì vậy, thái đến cùng cực thì bĩ sinh, rồi bĩ đến cùng cực thì thái lai.

Xem: Bĩ cực thái lai.

Đến tuần thái cực bĩ sinh,

Bị người Trung quốc đánh giành lần sang.

(Hạnh Thục Ca).



THÁI CHÂN 

Thái chân là hiệu của Dương Ngọc Hoàn, người đời Đường, tính thông minh, sành âm nhạc và ca múa, lại có sắc đẹp tuyệt trần. Thái Chân là vợ của Thọ Xương Vương, dâu của Đường Huyền Tông. Sau Thái Chân được Đường Huyền Tông yêu, phong cho làm Quý phi. Xem: Dương Phi.



Trên cây khác ngỡ hồn Cô Dịch,

Đáy nước ngờ là mặt Thái Chân.

(Quốc Âm Thi Tập).



THÁI DỊCH 

Thái Dịch là tên một cái ao ở Trường An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Ao Thái Dịch được đào vào thời vua Hán Vũ Đế để trồng hoa sen.



Vật vờ Thái Dịch nghìn tầng biếc,

Sực nức Tây Hồ mấy dặm hương.

(Hồng Đức Quốc Âm).



THÁI GIÁM 

Thái giám là một chức quan ngày xưa theo hầu hạ vua và các bà Hậu, Phi trong nội cung. Muốn làm Thái giám, phải là người không có bộ phận sinh dục bẩm sinh hay chịu thiến bỏ, vì quan Thái giám ở lẫn lộn với các bà để chịu sự sai khiến trong nội cung.



Thái giám rằng ngươi Trần Bình,

Song còn phụ giá thánh minh ngoài trào.

(Trọng Tương Vấn Hớn).



THÁI HÀ 

Thái: Hay Thể là rực rỡ. : Ráng mây.

Thái hà là mây có ánh sáng mặt trời chiếu vào thành nhiều màu sắc rực rỡ.



Thái  lấp lánh đông tây,

Sớm đình hương, tối đình mây sẵn sàng.

(Hoa Tiên Truyện).



THÁI HÀNG

Tên một ngọn núi thuộc đất Tinh Châu, nơi Địch Nhân Kiệt làm quan đời Đường, nhìn thấy đám mây trắng bay lơ lửng trên núi, mà sinh lòng nhớ cha mẹ ở Hà Dương.

Thái Hàng dùng để chỉ lòng nhớ cha mẹ.

Nam cai khuất non xanh man mác,

Thái Hàng xa mây bạc lần vần.

(Tự Tình Khúc).



THÁI HÒA 

Khí thái hoà là khí âm dương giao hoà ngưng tụ lại, toả ra khắp nơi. Thái hoà cũng là nói thời kỳ yên ổn thịnh trị, đồng nghĩa với chữ thái bình.



Triều Lê đương hội Thái hòa,

Có Trần công tử tên là Tú Uyên.

(Bích Câu Kỳ Ngộ).



THÁI HỌC 

Đời nhà Trần có mở ra một khoa thi mới gọi là “Thái học  ” để chia các thứ bậc ra làm ba khoa giáp mà phân cao thấp.



Lại thi thái học chư sinh,

Lại thi tam giáo chia rành ba khoa.

(Quốc Sử Diễn Ca).



THÁI Y 

Ngày xưa, nơi cung điện các vua chúa có một bộ phận chuyên chữa trị bịnh cho người trong nội cung, gọi là Thái y viện. Những thầy thuốc làm việc ở đó đều gọi chung là quan Thái y.



Sứ đem lễ rước Nhân Sư,

Về Liêu làm chức Thái y trong toà.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



THÁI QUÁ BẤT CẬP 

Thái quá: Làm quá mức độ. Bất cập: Chẳng kịp, thua sút.

Thái quá và bất cất cập là hai thái độ mà các Nho gia thời xưa thường khuyên người ta nên tránh, mà phải giữ mức trung dung.

Đạo Trung dung theo Khổng Mạnh là một qui tắc hành động của bậc hiền minh, hợp với lẽ đương nhiên, không thái quá, không bất cập, song phải biết quyền biến, biết tùy thời, tùy cảnh ngộ, tùy địa vị mà xử sự, lúc nên làm thì làm, lúc không nên làm thì không làm. Nghĩa là phải cho hợp tình hợp lý chứ không chấp nhứt.

Đây là thái độ của người Quân tử theo đạo Trung dung: Quân tử tố kỳ vị nhi hành, bất nguyện hồ kỳ ngoại; tố phú quý hành hồ phú quý; tố bần tiện hành hồ bần tiện; tố di địch hành hồ di địch; tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn, quân tử vô nhập nhi bất đắc yên  , , , , , , , nghĩa là người quân tử cứ theo địa vị mình mà ăn ở, không cần ở ngoài; địa vị giàu sang thì ăn ở theo cách giàu sang; địa vị nghèo hèn thì ăn ở cách nghèo hèn; ở nơi mọi rợ thì ăn ở theo cách mọi rợ; ở vào lúc hoạn nạn thì ăn ở theo cảnh hoạn nạn. Người quân tử ở vào cảnh nào cũng tự đắc (tức là vui vẻ, thản nhiên).

Chớ thái quá đừng lòng bất cập,

Phép tu hành luyện tập nhiều ngày.

(Kinh Sám Hối).



THÁI SƠN 

Hay “Thái san”.

Núi Thái Sơn tại châu Thái An, phủ Tế Nam, tỉnh Sơn Đông. Lại có tên là núi Thiên Tôn, hay núi Đại Tông, là hòn núi lớn nhứt trong Ngũ nhạc.

Các vị vua chúa ngày xưa lúc thọ mệnh lên ngôi thường phong tặng hòn núi ấy. Núi cao hơn 40 dặm, gộp đá phía đông nam trên chót núi, người đời kêu là hòn “Nhật quang”, là vì gà vừa mới gáy đợt nhứt, nếu người nào đứng trên hòn “Nhật quang”, thì xem thấy mặt trời bắt đầu mọc.

Nghĩa bóng: Chỉ sự to lớn.

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,

Gieo Thái sơn như tựa hồng mao.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



Nực cười sự nhỏ cỏn con,

Bằng lông mà nảy nên cồn Thái sơn.

(Quan Âm Thị Kính).



Tuấn Khanh bèn mới thưa rằng:

Đội ơn quốc lão xem bằng Thái san.

(Nữ Tú Tài).



Sau Thầy hứa chắc đỡ nâng con,

Thiên Ấn Thái Sơn cũng chẳng mòn.

(Đạo Sử).



THÁI SƠN NHƯ LỆ HOÀNG HÀ NHƯ ĐÁI

Tức là dù núi Thái Sơn nhỏ như đá mài, sông Hoàng Hà nhỏ như sợi dây đai.

Núi Thái Sơn cao và sông Hoàng Hà rộng, là hai kỳ quan hùng vĩ bực nhứt, được coi như giang san của Trung Quốc. Vì thế, khi mới lên ngôi, phong tước cho quần thần, vua Hán Cao Tổ có lời thề: Hoàng hà như đái, Thái sơn như lệ, quốc dĩ vĩnh ninh viên cập miêu duệ  , , , , nghĩa là Hoàng hà nhỏ như sợi dây thắt lưng, Thái sơn như viên đá mài, nước nhà vẫn vĩnh viễn yên ổn cho đến đời con cháu sau này.

Xem: Hoàng Hà như dải Thái Sơn chẳng mòn.



Thái Sơn như lệ lâu bền,

Hoàng Hà như đái, bước trên công thần.

(Thanh Hoá Quan Phong).



Những ngỡ rằng khoán thiết thư son,

Thái Sơn như lệ, Hoàng Hà như đái.

(Thơ Nguyễn Công Trứ).



THÁI SƯ 

Thái sư là một chức quan lớn nhứt trong hàng tam công (Thái sư, Thái phó, Thái bảo) của chế độ vương quyền thời xưa. Xem: Công khanh.



Có người sang cả, ngôi cao,

Thái sư chức trọng trong trào sắc phong.

(Lục Vân Tiên).



THÁI TÂN 

Thái: Hái, bẻ. Tân: Củi.

Thái tân tức là hái hoặc nhặt củi.

Bởi chữ “Thái tân chi ưu  ” là nỗi lo về việc hái củi trong sách của Mạnh Tử.

Ngọn gió đưa một ngày một khác,

Ta nhớ người câu hát thái tân.

(Dương Từ Hà Mậu).



THÁI TUẾ 

Trong phép coi ngày, Thái tuế là một hung tinh, tức là một ngôi sao rất xấu. Năm nào gặp sao ấy chiếu mạng thì thường gặp nhiều nạn tai.



Ngỡ đà qua nạn Cự môn,

Ai hay Thái tuế hãy còn theo đây.

(Quan Âm Thị Kính).



THÁI TỰ 

Hay “Thái Tỷ”.

Người con gái nước Sằn, họ Tự, có nhan sắc, đức hạnh. Sau bà được về làm vợ của vua Văn Vương nhà Châu, giúp vua sắp xếp mọi việc trong nội cung, và giữ việc giáo huấn các con cái, chính cái đức của Võ Vương và Châu Công là do tự bà đã dạy dỗ. Bà lại là người cần kiệm, thương yêu kẻ dưới, do vậy các cơ thiếp của vua đều cảm đội ơn đức bà.

Kìa như Châu Thái Tỷ,

kinh còn khen đức rạng khuê môn.

Nọ như Tống Tuyên Nhơn,

sử còn ngợi nữ trung Nghiêu, Thuấn.

(Sãi Vãi).



THÁI THẠCH 

Thái Thạch là tên một ghềnh đá dưới núi Ngưu chử thuộc tỉnh An huy, bên Trung Hoa. Tương tuyền Lý Bạch, một bậc thi nhân đời nhà Đường, có tính phóng khoáng hay uống rượu. Một buổi ngồi trên ghềnh Thái Thạch, uống rượu say, thấy bóng trăng in đáy nước, liền nhảy xuống ôm lấy mặt trăng.



Ấy ai dỗi gót bên non,

Bóng trăng Thái Thạch là hồn ai say!

(Bích Câu Kỳ Ngộ).



Ngàn nọ so miền Thái Thạch,

Làng kia mở cảnh Tiêu Tương.

(Quốc Âm Thi Tập).



THÁI THUẬN 

Thái Thuận sinh vào đời nhà Hán, nhà nghèo, mồ côi cha từ bé, thờ mẹ rất có hiếu. Gặp năm loạn lạc thiếu đói, phải đi vào rừng tìm kíếm những quả dâu chín đem về cho đỡ đói. Khi tìm được quả nào chín, còn quả đỏ để ra một bên.

Một ngày kia, gặp vị tướng giặp Xích my đi qua, trông thấy hỏi: Vì cớ gì để làm hai nơi như thế? Thái Thuận trả lời: Quả nào chín thì ngọt, để riêng biếu mẹ tôi, còn quả nào đỏ thì chua, để dành tôi ăn. Vị tướng giặc khen là có hiếu, bèn truyền quân lấy một thùng gạo và một cái đùi trâu để tặng ông.

Người Thái Thuận ở sau đời Hán,

Dạ thờ thân tiết loạn khôn lay.

(Nhị Thập Tứ Hiếu).



THÁI THƯỢNG 

Tức là Thái Thượng Lão Quân, là vị tổ sư của Đạo Giáo. Tương truyền Ngài họ Lý tên Nhĩ, thuỵ là Đam, tự là Bá Dương, mới sinh ra đã đầu bạc, nên người đương thời mới gọi là Lão Tử.

Xem: Thái Thượng Lão Quân.

Khấn rằng: Thái Thượng Lão Quân,

Cỡi trâu hoá phép phong vân chớ chầy.

(Nữ Tú Tài).



Tổ Sư Thái Thượng Đức Ông

Ra tay dẫn độ, dày công giúp đời,

(Kinh Cúng Tứ Thời).



THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN 

Thái Thương Lão Quân còn gọi là Thái Thượng Đạo Tổ, là vị Tổ Sư của Tiên giáo. Theo bài kinh Tiên giáo, thì Ngài do khí Tiên Thiên hóa sinh ra (Tiên thiên khí hóa Thái Thượng Đạo Quân  ).

Thái Thượng Đạo Tổ có một kiếp giáng trần nhằm ngày rằm tháng hai vào đời nhà Thương bên Trung Hoa được gọi là Lão Tử.

Xem: Lão Tử.



Khấn rằng: Thái Thượng Lão Quân,

Cỡi trâu hoá phép phong vân chớ chầy.

(Nữ Tú Tài).



THÁI VĂN CƠ 

Tên là Diễm, tự Văn Cơ, con của Thái Ung đời Đông Hán, học rộng có tài biện bác. Ban đầu Thái Văn Cơ lấy chồng là Trọng Đạo ở Hà Đông, sau chồng mất không con phải về nhà cha mẹ ở. Đến năm có loạn rợ Hồ, nàng bị bắt về ở đất Hung Nô mười hai năm, sinh được hai đứa con. Tào Tháo thấy Thái Ung không người nối dõi, bèn cho sứ đem vàng ngọc đến Hung Nô chuộc về, rồi gả cho Đổng Kỷ. Kỷ là đồn điền đô uý phạm pháp đáng tội chết. Văn Cơ cầu Tào Tháo tha tội, Tháo đồng ý tha cho.

Thái Văn Cơ còn là một người con gái giỏi về âm luật, nghe tiếng đờn biết phân biệt được việc lành dữ.

Gái như Tạ Đạo Uẩn,

gái mà hay vịnh tuyết thành thơ;

Gái như Thái Văn Cơ,

gái mà biết phân cầm nên khúc.

(Sãi Vãi).



THAM ĐÓ BỎ ĐĂNG

Đó và đăng là hai dụng cụ đan bằng tre, người ta dùng để bắt cá. Đó, đan như hình ống hay nón, đăng, cắm thành hàng, hình như cái phểu để chận theo luồng nước, cá lọt vào mà bắt.

Tham đó bỏ đăng là câu tục ngữ dùng để chỉ con người bạc bẽo, có mới nới cũ.

Xem: Ham đó bỏ đăng.



Xin đừng tham đó bỏ đăng,

Chơi lê quên lựu, chơi trăng quên đèn.

(Lục Vân Tiên).



THAM GIAN BẠO NGƯỢC 

Tham gian: Tham lam gian trá. Bạo ngược: Hung bạo ngang ngược.

Tham gian bạo ngược chỉ người ngang tàng bạo ngược, có tính tham lam, gian trá.



Trừ đảng dữ tham gian bạo ngược,

Diệt những phường mưu chước cầu vinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THAM HỒNG TÍCH LỤC 

Hay “Tích lục tham hồng  ”.



Tham hồng: Ham thích màu hồng. Tích lục: Thương tiếc màu lục.

Tham hồng tích lục là ham màu đỏ, tiếc màu xanh, ý muốn nói những người đàn ông hay đeo đuổi đàn bà con gái. Xanh đỏ là nói về sắc áo phụ nữ hay ví với đàn bà con gái.



Nào người phượng chạ loan chung,

Nào người tích lục tham hồng là ai?

(Truyện Kiều).



THAM LÊ BỎ LỰU

Lê và lựu là những loại trái cây mà trong văn chương người ta thường ví với người đàn bà con gái.

Tham lê bỏ lựu có ý nói ham mê cái mới, bỏ bê cái cũ, tức là có mới nới cũ.

Nghĩa bóng: Chỉ người thay lòng đổi dạ, vợ chồng không chung thuỷ nhau.



Chừ sao bỏ nghĩa én anh,

Tham lê bỏ lựu, phụ tình trước mai.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THAM LỰU BỎ ĐÀO

Cùng nghĩa với câu tham lê bỏ lựu, thành ngữ “Tham lựu bỏ đào” dùng để chỉ người có lòng dạ không chung thuỷ, mới chuộng cũ vong.

Xem: Tham lê bỏ lựu.

E ra nhiều thiếp nhiều hầu,

Rồi tham bẻ lựubỏ đào bơ vơ.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THAM SANG HẠI VỢ

Ngô Khởi người nước Vệ đời Đông Châu, làm quan nước Lỗ, có vợ là người nước Tề.

Khi Tề đánh Lỗ, Tể tướng Công Nghi Hưu tiến cử Ngô Khởi cho Lỗ Hầu, nhưng vua Lỗ nghi Khởi không hết lòng, vì vợ hắn là người nước Tề.

Ngô Khởi biết được, về giết vợ và đem đầu dâng vua Lỗ, được phong làm Đại tướng, đánh lui binh Tề.

Xem: Sát thê cầu tướng.

Ghét đứa cầu mỵ mà giết con,

Ghét đứa tham sang mà hại vợ.

(Sãi Vãi).



THAM SANH ÚY TỬ 

Tham sinh: Ham sống. Uý tử: Sợ chết.

Tham sinh uý tử là ham sống sợ chết, nói người chỉ biết bản thân, không nghĩ gì đến đất nước dân tộc.



Này là cường bạo uy gia,

Tham sanh úy tử, nhuốc ta, hổ nhà.

(Huấn Nữ Ca).



THAM TÁN 

Tham: Chen dự vào. Tán: Giúp đỡ.

1.- Tham tán là dự vào để giúp đỡ công việc:



Đem tài tham tán giúp vào việc công.

(Thơ Cổ).

2.- Tham tán là một chức quan võ coi việc điều hành quân binh.

Cho Đông Sơ với Lạc Thiên,

Kẻ quyền Tham tán, người quyền Đổng binh.

(Nhị Độ Mai).



THAM TUYỀN 

Tham Tuyền là tên một ngọn suối ở tại Thạch Môn thuộc tỉnh Quảng Châu. Tương truyền, người nào dù thanh liêm tới đâu, khi uống nước Tham Tuyền thì trở nên người tham lam.

Ngô Ẩn Chi đời Tấn vốn là người liêm khiết, khi nghe vậy, liền múc nước suối Tham Tuyền để uống, uống xong bèn làm hai câu thơ: Thí sử Di Tề ẩm, chung dương bất dịch tâm  使 , , tức là nếu khiến Di Tề uống, lòng kia chẳng đổi thay. Ý Ngô Ẩn Chi muốn ví mình như Di Tề, dù có uống nước suối cũng không thay lòng đổi dạ được.

THÁM HOA 

Thám hoa là thi đậu bậc thứ ba trong tam khôi, sau Trạng nguyên và Bảng nhãn. Đây là ba bậc cao nhứt trong khoa thi Đình.



Truyền lô Lương tại Thám hoa,

Diêu sinh Hoàng giáp cùng toà á khôi.

(Hoa Tiên Truyện).



Thám hoa võ cử xuất thân,

Ba nơi tọa trấn mấy lần đổng binh.

(Nhị Độ Mai).



Trước đền đứng lặng đầu ngao,

Dương Trân Bảng Nhãn, Bửu vào Thám hoa.

(Dương Từ Hà Mậu).

 

THÁM HOA VÕ CỬ 

Thám hoa: Đỗ bậc thứ ba trong khoa thi đình. Võ cử: Khoa thi võ nghệ để cử người tài.

Thám hoa võ cử tức là đỗ bậc Thám hoa trong khoa thi võ nghệ.



Thám hoa võ cử xuất thân,

Ba nơi tọa trấn mấy lần đổng binh.

(Nhị Độ Mai)



THẢM LẤP SẦU VÙI

Thảm lấp sầu vùi tức là lấp kín những nỗi thảm, vùi sâu các mối sầu, ý nói làm cho hết nỗi sầu thảm.

Xem: Vùi sầu lấp thảm.

Phật tiền thảm lấp sầu vùi,

Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương.

(Truyện Kiều).



THAN PHỤNG

Khổng Tử chu du khắp các nước, mong truyền bá cái đạo của mình, nhưng tuổi Ngài đã già mà chưa đưa ra thi hành được, nên có làm bài ca than rằng: Đường Ngu chi thế lân phụng du, kim phi thời hề lai hà cầu? lân hề, lân hề ngã tâm ưu  , ? , , , nghĩa là Đời Đường đời Ngu hề, lân phượng ra chơi. Nay không phải thời hề, đến làm chi? Lân hề, lân hề, lòng ta lo âu.

Hoặc cũng có câu than: Phụng điểu bất chí, Hà bất xuất đồ, ngô dĩ hỹ phù  , , , nghĩa là chim phượng không đến, sông Hoàng hà không xuất hiện đồ thư, đời ta e hết rồi chăng?

Trăm đời còn cám lời than phụng,

Muôn thuở đều thương tiếng khóc lân.

(Dương Từ Hà Mậu).



THANG LAN 

Thang: Nước sôi. Lan: Hoa lan.

Thang lan tức là nước nấu sôi có bỏ hoa lan cho nước vừa nóng vừa thơm, dùng để người đẹp tắm.



Buồng the phải buổi thong dong,

Thang lan rũ bức trướng hồng tẩm hoa.

(Truyện Kiều).



THANG MÂY

Bởi chữ Hán “Vân thê  ”, là cái thang để bước lên mây.

Thang mây dùng chỉ lúc được thoả chí lên tận mây, để diễn tả thành đạt của công danh sự nghiệp.

Con dầu bước đặng thang mây,

Dưới chân đã sẵn một dây tơ hồng.

(Lục Vân Tiên).



Khuyên chàng kinh sử đêm ngày.

Thang mây mong nhắc chân giầy cho cao.

(Quan Âm Thị Kính).



Mong vin nhành quế tay còn thấp,

Rắp bước thang mây gót chửa cao.

(Thơ Tôn Thọ Tường).



THANG MỘC 

Thang mộc là dùng nước nóng để tắm gội.

Ngày xưa thiên tử lấy đất Kinh đô phong ấp cho chư hầu, gọi thang mộc ấp, tức là lấy hoa lợi ở đó để dùng việc tắm gội tinh khiết mà chầu thiên tử. Ý nói tiền thu hoa lợi không là bao nhiêu, vừa đủ chi phí về việc tắm gội.

Lễ Ký có câu: Phương bá dĩ chầu thiên tử, giai hữu thang mộc chi ấp, ư thiên tử chi huyện nội, thị nguyên sĩ  , , , , các vị phương bá (Tức các chư hầu) vào chầu thiên tử đều có thang mộc ấp trong khu vực gần Kinh thành, rộng bằng đất các quan đầu triều.



Nó cùng Đường Nguyễn bấy chừ,

Lấy làm thang mộc sức trừ binh lương.

(Thiên Nam Ngữ Lục).



THANG VĂN 

Tức vua Thành Thang đời nhà Thương và vua Văn Vương đời nhà Châu.

Thành Thang đem quân đi đánh và bắt đày vua Kiệt ở Nam Sào, phế nhà Hạ, lên ngôi dựng quốc hiệu nhà Thương.

Văn Vương họ Cơ tên Xương là cha của vua Võ Vương nhà Châu. Khi còn là một chư hầu của vua Trụ, Văn Vương làm Tây bá dựng nước ở chân núi Kỳ Sơn, thuộc tỉnh Thiểm Tây, sau vì lời gièm pha, ông bị vua Trụ bắt giam ở Dữu Lý bảy năm mới được phóng thích.



Dây dưa truyền đã bảy đời,

Kiệm cần còn hãy đội trời Thang Văn.

(Hoài Nam Khúc).



Xe bồ luân dù chưa gặp Thang Văn,

Phù thế giáo một vài câu thanh nghị.

(Thơ Nguyễn Công Trứ).



THANG VÕ 

Hay “Thang Vũ”.

Tức là hai ông vua thời nhà Thương và nhà Châu, đó là vua Thành Thang và vua Võ Vương.

Thành Thang là vị vua diệt nhà Hạ, sáng nghiệp nhà Thương còn vua Võ Vương là con của vua Châu Văn Vương, tên Phát, cuối đời nhà Ân, kế vị cha giữ chức Tây Bá. Sau thống lãnh quân chư hầu đông chinh, đánh bại vua Trụ ở Mục Dã, diệt nhà Ân, dựng nghiệp nhà Châu.

1.- Thang Võ:

Nghe trước có đấng vương Thang, Võ,

Công nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao;

(Ai Tư Vãn).



Cày mây cuốc nguyệt chờ Thang Võ,

Rằng biết cho dân chịu buộc ràng.

(Đạo Sử).

2.- Thang Vũ:

Hồn phách đâu đều ngày chẳng Thuấn Nghiêu,

Hài cốt đó cũng nước non Thang Vũ.

(Trận Vong Tướng Sĩ).



Ánh năm mây bày ngọc bạch đôi hàng,

Thảo mộc hãy ca công Thang Vũ.

(Tụng Cảnh Tây Hồ).



THÁNG NGÀY CHÂU

Tháng ngày Châu tức chỉ thời gian cai trị của vua Võ Vương đời nhà Châu.

Theo lịch sử, sau khi diệt Trụ, Võ Vương nhà Châu lên ngôi trị vì, là thời đại dân chúng đựợc an cư lạc nghiệp, đất nước thanh bình, và thịnh trị nhất.

Trông tháng ngày Châu, tin phụng vắng,

Buồn non nước Tống tiếng quyên kêu.

(Dương Từ Hà Mậu).



THANH BẠCH 

Thanh: Trong sạch. Bạch: Trắng.

Thanh bạch chỉ cái hành vi trong sạch, không có điều gì tỳ vết.



Tiếng thanh bạch để về sau,

Dẫu rằng uống nước, ăn rau chớ nài.

(Nhị Độ Mai).



Thanh bạch một lòng vì đạo hạnh,

Có khi lóng đục bởi nhờ phèn.

(Đạo Sử).



THANH BÌNH 

Thanh: Trong sạch. Bình: Yên ổn.

Thanh bình nói cuộc đời yên ổn, không có điều gì xáo trộn hay giặc giã, ý chỉ đất nước thái bình thịnh trị.



Nước thanh bình ba trăm năm cũ,

Áo nhung trao quan vũ từ đây.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



THANH CAO 

Thanh cao chỉ khí tiết của người không chịu uốn mình để làm một điều gì trái với lương tâm, có một nhân cách trong sạch, cao quý.



Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

(Truyện Kiều).



Đêm đêm lặng hỏi trời già,

Thân này ô trọc hay là thanh cao?

(Tự Tình Khúc).



Dầu rủi phận nợ thân chẳng vẹn,

Đạo cần vương nêu tiếng thanh cao.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THANH CẦN 

Thanh: Thanh liêm. Cần: Cần mẫn.

Thanh cần là thanh liêm cần mẫn, tức là người không tham lam, trong sạch và siêng năng.



Dõi đời khoa bảng xuất thân,

Trăm năm lấy chữ thanh cần làm bia.

(Tự Tình Khúc).



THANH CUNG 

Cung điện sơn màu xanh.

Sách Thần Dị Kinh chép: Ở ngoài biển Đông Hải, núi Đông Minh có một cung điện vách tường bằng đá xanh, ngoài cửa có tấm bảng bằng bạc đề: Thiên địa trưởng nam chi cung  , tức là cung con trai trưởng của trời đất.

Nhân đó người ta gọi Thái tử là Đông cung (Cung ở Đông Hải), hoặc “Thanh cung ”.

Xem: Cung xanh.

THANH DẠ 

Hay “Thanh dạ du  ” là đi chơi trong đêm thanh, cũng là tên của một bài hát vua Tuỳ Dạng Đế đặt ra để hát chơi cùng các cung nhân dạo trong vườn Tây Uyển.



Vườn Tây Uyển khúc trùng Thanh Dạ,

Gác Lâm Xuân điệu ngã Đình Hoa.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



THANH ĐẠM 

Thanh: Trong. Đạm: Lạt.

Thanh đạm là nói những thức ăn bình thường, giản tiện, không cần đến thức cao lương mỹ vị.



Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm,

Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



THANH GIẢN 

Thanh: Trong sạch. Giản: Giản dị.

Thanh giản tức là chỉ người thanh liêm và có cuộc sống đơn giản.



Chứng oan mắc phải mưu sâu,

Cũng vì thanh giản lấy đâu nhân tình?

(Nhị Độ Mai).



THANH HẢI 

Tên đất. Đời Đường có rợ Thổ Cốc Hồn hùng cứ ở đây và có năm bộ lạc ở phía tây bắc nước Trung Hoa.

Lý Bạch trong bài Quan Sơn Khúc có câu: Hán hạ Bạch Đăng Thành, Hồ khuy Thanh Hải khúc  , . Nghĩa là: Hán xuống thành Bạch Đăng, Hồ dòm bãi Thanh Hải.

Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại,

Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



Bạch Đăng quân Hán đóng đồn,

Vụng kia Thanh Hải dòm luôn mắt Hồ.

(Thơ Dịch, Tản Đà).



THANH Y 

Thanh: Màu xanh. Y: Áo.

Thanh y là áo xanh, áo của người nghèo hèn ngày xưa thường mặc. Từ đó, chữ “Thanh y” dùng để gọi người đầy tớ gái.



Ra vào theo lũ thanh y,

Dãi dầu tóc rối da chì quản bao.

(Truyện Kiều).



Hết nạn ấy đến nạn kia,

Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần.

(Truyện Kiều).



THANH KỲ 

Thanh: Chỉ sự thanh cao. Kỳ: Lạ lùng.

Thanh kỳ chỉ người có cuộc sống trong sạch, lời nói thanh cao một cách lạ thường.



Khen tài nhả ngọc phun châu,

Ba vần già dặn, bốn câu thanh kỳ.

(Nhị Độ Mai).



THANH KHÂM 

Thanh: Màu xanh. Khâm: Cổ áo.

Thanh khâm là cái cổ áo màu xanh, dùng để tượng trưng cho cái áo.

Cổ áo xanh là tiếng gọi chung các sĩ tử thời xưa. Bởi vì học trò ngày trước thường mặc áo màu xanh.

Nghĩa bóng: Chỉ học trò.



Dám xin cha mẹ an tâm,

Cho con trả nợ thanh khâm cho rồi.

(Lục Vân Tiên).



Dương Trân, Dương Bửu đồng tâm,

Thưa rằng con nợ thanh khâm chưa rồi.

(Dương Từ Hà Mậu).



THANH KHÍ 

Thanh: Tiếng. Khí: Hơi.

Do câu trong Kinh Dịch: Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu  , , có nghĩa là cùng một thanh thì ứng với nhau, cùng một khí thì tìm lấy nhau. Nói sự cảm ứng tự nhiên của các vật cùng loại trong trời đất.

Vạn vật trong trời đất cùng một loài với nhau thì cảm ứng với nhau. Bạn bè chơi với nhau cùng ý cùng lòng mới thân nhau được.

Thưa rằng: Thanh khí xưa nay,

Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?

(Truyện Kiều).



Cho hay thanh khí tương cờ,

Cách tường sinh cũng khi vừa dạo thanh.

(Hoa tiên Truyện).



THANH LÂU 

Thanh: Màu xanh. Lâu: Nhà lầu.

Thanh lâu là lầu xanh, ngày xưa dùng để chỉ nhà quyền quý. Theo Nam Sử, Đời Tề vua Võ Đế cho xây dựng lầu cao, trên sơn màu xanh, người đời gọi là thanh lâu. Sách Tào Thực chép: Thanh lâu lâm đại lộ, cao môn kết trùng quan  , , nghĩa là lầu xanh chạy dài đến đường cái lớn, cửa cao có mấy tầng khóa chặt. Ý chỉ lầu của nhà phú quý.

Nhưng từ khi Lưu Mạo Lương có làm câu thơ: Xướng nữ bất thăng sầu, kết thúc hạ thanh lâu , , tức là người ca nhi không xiết buồn, thu vén xuống lầu xanh thì từ đó thanh lâu mới dùng để chỉ nơi kỹ nữ ở (Nhà điếm).

Hết nạn ấy đến nạn kia,

Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần.

(Truyện Kiều).



Hành đến chết hườn hồn sống lại,

Cho đầu thai ở tại thanh lâu.

(Kinh Sám Hối).



Đừng quen kết lũ vầy đoàn,

Cửa thanh lâu những rộn ràng gió trăng.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THANH LIÊM 

Thanh: Trong sạch. Liêm: Không tham lam.

Thanh liêm là người có đời sống trong sạch, không tham lam.



Chủ huyện thanh liêm khéo dở trò,

Bồ tiền thì lại lấy vần bồ.

(Thơ Nguyễn Khuyến).



Trọng câu phước đức dạ lo nhân,

Phải mặt thanh liêm giữ kiệm cần.

(Đạo Sử).



May duyên gặp đặng vợ hiền,

Thanh liêm chánh trực giữ bền lòng son.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THANH LIÊN 

Hiệu của Lý Bạch, một đại thi hào đời nhà Đường, sinh ở làng Thanh Liên đất Thục, nên lấy tên làng làm hiệu. Ông có thiên tài đặc biệt về văn thơ, được vua Đường Huyền Tông rất yêu kính.

Xem: Lý Bạch.

Miễn là lầm lỗi theo thời,

Chẳng ca Bạch tuyết chẳng tài Thanh Liên.

(Nữ Tú Tài).



Đệ trình ông những ban khen,

Giá này Hoàng Hạc Thanh Liên cũng nhường.

(Hoa Tiên Truyện).



THANH LONG XÍCH THỐ 

Thanh long là tên một ngọn đao sắt bén của Quan Vân Trường. Xích thố là tên một con ngựa rất tốt, nguyên là của Lữ Bố, rồi sau truyền lại cho Quan Công.

Thanh long xích thố là hai vật giúp cho Quan Vân Trường, tức Quan Công lập nhiều công lớn cho nước Thục, đời Tam Quốc.

Ông Quan Công sáu ải thoát qua,

Vì cậy có thanh long xích thố.

(Lục Súc Tranh Công).



THANH MINH 

Thanh minh là một cái tiết vào tháng ba. Trong tiết này, người ta thường đi tảo mộ, tức là bày lễ cúng nơi phần mộ và dọn dẹp sạch sẽ chung quanh mộ.



Thanh minh trong tiết tháng ba,

Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh.

(Truyện Kiều).



Dù thương đến chị sau này,

Hoặc tuần hàn thực, hoặc ngày thanh minh.

(Nhị Độ Mai).



Thanh Minh trong tiết vườn xuân,

Phụng chầu, hạc múa, gà rừng gáy reo.

(Đạo Sử).



THANH NGU 

Thanh: Thanh cao. Ngu: Vui vẻ.

Thanh ngu nói người vui vẻ trong sự thanh cao.



Phong cảnh cũ nhiều nơi thắng lãm,

Triều đời xưa mấy lớp thanh ngu.

(Tụng Cảnh Tây Hồ).



THANH NGHỊ 

Thanh nghị là những điều bàn bạc thanh cao.

Đường Thư có câu: Thiên hạ thanh nghị thượng chi  , nghĩa là chuộng những điều thanh nghị trong thiên hạ.

Xe bồ luân dù chưa gặp Thang Văn,

Phù thế giáo một vài câu thanh nghị.

(Thơ Nguyễn Công Trứ).



THANH NHÀN 

Thanh: Xong xuôi. Nhàn: Không bận rộn.

Thanh nhàn là thảnh thơi, nhàn nhã, không có việc gì ràng buộc, bận bịu.



Buồn riêng sửa chốn thanh nhàn,

Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.

(Truyện Kiều).



Nghiệp nước nỗi nhà còn bận bịu,

Thanh nhàn chưa phải buổi xem mai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



Sắm vật liệu trong nhà đẹp đẽ,

Đừng kịch thô mất vẻ thanh nhàn.

(Phương Tu Đại Đạo).



THANH SỬ 

Ngày xưa người ta dùng tre để chép sử. Cái sắc của cật tre vốn màu xanh, cho nên gọi là thanh sử.

Lý Bạch có câu: Thanh sử cựu danh truyền  , tức là tên ngày xưa là thanh sử, cho đến nay còn truyền lại.

Đã thương mới dám ngỏ lời,

Nhớ trong thanh sử hôm mai ghi lòng.

(Truyện Trinh thử).



Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt,

Hồng ân chi kém bạn nam nhi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THANH TÂN 

Thanh: Trong trẻo. Tân: Mới mẻ.

Thanh tân là trong sạch và mới mẻ, hoặc để chỉ người con gái non trẻ.



Lời đâu quyến luyến thanh tân,

Rủ rê gió sở mây tần bởi ai.

(Hoa Tiên Truyện).



Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,

Có chiều phong vận có chiều thanh tân.

(Truyện Kiều).



THANH TIÊU 

Thanh: Xanh. Tiêu: Trời.

Thanh tiêu là bầu trời màu xanh, hoặc dùng để chỉ nơi tiên cảnh.



Vốn xưa thiếp khách thanh tiêu,

Tiên thù là hiệu, Giáng Kiều là tên.

(Bích Câu Kỳ Ngộ).



THANH TÚ 

Thanh: Thanh cao. : Đẹp đẽ.

Thanh tú là người có dáng thanh cao và đẹp đẽ.



Thấy chàng, nàng cũng mừng vui,

Dáng người thanh tú, vẻ người văn chương.

(Nhị Độ Mai).



THANH THIÊN BẠCH NHẬT 

Thanh thiên: Trời xanh. Bạch nhật: Ban ngày.

Thanh thiên bạch nhật là giữa ban ngày dưới bầu trời xanh. Ý chỉ sự việc rõ ràng không có điều gì mờ ám, tức là xuất hiện giữa ban ngày ban mặt.



Ba quân đông mặt pháp tràng,

Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi.

(Truyện Kiều).



THANH THÙ 

Thanh: Xanh. Thù: Tức tri thù là con nhện.

Thanh thù con nhện xanh.



Mái cầm viện dế kêu liền thu đến,

vài gian kết thảm lưới thanh thù.

(Chiến Tụng Tây Hồ).



THANH ỨNG KHÍ CẦU 

Bởi câu “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu  , ” nghĩa là đồng tiếng thì ứng nhau, cùng khí thì tìm nhau.

Theo Kinh Dịch, vạn vật trong trời đất cùng một loài với nhau thì cảm ứng với nhau. Bạn bè cùng tư tưởng nhau thì giao thiệp với nhau rất hợp, gọi là thanh ứng khí cầu.

Xem: Thanh khí.



Than rằng: Thanh ứng khí cầu,

Người kim cổ dạ trước sau một đường.

(Nhị Độ Mai).



THANH VÂN 

Thanh vân là mây xanh, dùng để chỉ người có địa vị cao (Tận mây xanh). Sau đó người ta dùng thanh vân để chỉ việc đi thi, lập công danh.

Cổ thi có câu: Nhất đán công đạo khai, thanh vân tại bình địa  , , nghĩa là Một mai đường công danh mở, đường mây ở tại đất bằng.

Bảy năm một hội thanh vân,

Anh tài náo nức dần dần mới ra.

(Quốc Sử Diễn Ca).



Từ khi nhẹ bước thanh vân,

Nỗi nàng càng nghĩ xa gần càng thương.

(Truyện Kiều).



THANH XUÂN BẤT TÁI 

Thanh xuân: Chỉ tuổi trẻ. Bất tái: Không lập lại.

Thanh xuân bất tái tức là tuổi trẻ qua rồi, không bao giờ trở lại lần nữa.



Chữ hằng dạy: Thanh xuân bất tái.

Vợ người rồi danh gái hết kêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THÁNH CHÚA 

Thánh: Tiếng tôn xưng vua chúa. Chúa: Vua.

Thánh chúa là tiếng tôn xưng các vị vua chúa.



Ngày nay Thánh chúa trị đời,

Nguyền cho linh phụng gặp nơi ngô đồng.

(Lục Vân Tiên).



THÁNH ĐẾ 

Thánh: Tiếng tôn xưng vua chúa. Đế: Vua.

Thánh đế, cũng như chữ thánh chúa, là tiếng tôn xưng vua chúa. Xem: Thánh chúa.



Rằng: Ơn Thánh đế dồi dào,

Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu.

(Truyện Kiều).



THÁNH ĐỨC 

Thánh: Người hiểu thấu mọi việc, học thức đạo đức cao siêu. Đức: Người làm điều lành, thi ân bố đức cho kẻ khác.

Thánh đức là cái đức của bậc Thánh, tức là những bậc hiền nhân có tâm hồn hy sinh để phụng sự cho nhơn loại và dẫn dắt nhơn loại vào con đường đạo đức.

Đường Thánh đức là đường để đạt được bậc Thánh, tức con đường đạo đức.

Luật Nhơn quả để răn Thánh đức,

Cửa Luân hồi nhắc bực cao siêu

(Kinh Tận Độ).



Trên đường Thánh đức lần dò,

Trường sanh mầu nhiệm nơi lò Hóa công.

(Kinh Thế Đạo).



Nam Hải trổ nhiều tay Thánh đức,

Giao Châu sanh lắm mặt Anh hùng.

(Đạo Sử).



Châu Công đưa nghiệp nối Nho phong,

Thánh đức còn nêu trí hoán phòng.

(Đạo Sử).



THÁNH HIỀN 

Thánh: Người hiểu thấu mọi việc, học thức đạo đức cao siêu. Hiền: Người có đức hạnh và tài năng.

Thánh hiền là người có đức hạnh cao siêu, và tài năng uyên bác.



Chốn điền viên cũ dầu thong thả,

Đạo Thánh Hiền xưa luống chốc mòng.

(Thơ nguyễn Bỉnh Khiêm).



Dòng thần sánh vời người tiên,

Tinh anh nhóm lại, Thánh hiền nối ra,

(Quốc Sử Diễn Ca).

Thánh Hiền chưa khỏi đời chê,

Huống ta phàm tiểu dễ bề đón ngăn.

(Hứa Sử Tân Truyện).



Trường đời đem thử gan anh tuấn,

Cửa Đạo mới ra bậc Thánh Hiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



Coi gương trước Thánh Hiền ghi lại,

Kết bạn nhau đạo ngãi làm sao.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THÁNH MIẾU 

Thánh: Bậc có đạo đức cao siêu và hiểu thấu mọi việc. Miếu: Ngôi nhà dùng để thờ tự.

Thánh miếu là miếu thờ Đức Khổng Tử và các vị á thánh (Như Mạnh Tử…) của Nho giáo.



Cửa Thánh miếu hỡi còn thiếu gái,

Chốn quyền môn nữ lại vẫn không.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THÁNH NHÂN 

Thánh nhân là người đạt đến trình độ hoàn thiện nhứt một học thuyết hay triết thuyết trong lý thuyết hay thực hành. Đối với các Nho gia, Đức Khổng Tử được coi như là một bậc Thánh Nhân vì Ngài chu du thiên hạ, truyền đạo hoá dân, trăm bề khổ sở.



Thương là thương đức Thánh nhân,

Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuôn.

(Lục Vân Tiên).



Nhớ xưa Đức Khổng Thánh nhân,

Kính ông Sư Miện vân vân chiếu thềm.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



THÁNH TỀ THIÊN

Tức là Tề Thiên Đại Thánh .

Theo truyện Tây Du Diễn Nghĩa, Tề Thiên Đại Thánh nguyên là một thạch hầu, do một tảng đá trên Hoa Quả sơn thọ khí Âm dương của Trời đất mà sinh hóa ra. Thạch hầu lớn lên, tầm sư học đạo, thọ đặng phép thất thập nhị huyền công, nên rất thần thông quảng đại, được Đức Thượng Đế phong làm Tề Thiên Đại Thánh. Đại Thánh nhờ Quan Âm Bồ Tát đưa về quy y Phật pháp, làm môn đồ của Trần Huyền Trang, một nhà sư đời nhà Đường. Sau đó, Thánh Tề Thiên theo thầy đi thỉnh kinh ở Tây Trúc. Nhờ công đức này, Đại Thánh đắc quả Phật vị, đó là Chiến Đấu Thắng Phật.

Trừ yêu có Thánh Tề Thiên,

Qui y Phật pháp ở miền Tây phương.

(Xưng Tụng Công Đức).



THÀNH CỐC

Tức là núi “Cốc Thành” ở phía bắc sông Tế Thuỷ, nơi hẹn gặp nhau, sau mười ba năm giữa Trương Lưu Hầu và ông già đã tặng cho ông bộ binh pháp trên cầu Hạ Bì. Sau Lưu Hầu theo Cao Đế qua chỗ ấy thì thấy một tảng đá màu vàng dưới chân núi Cốc Thành.

Xem: Cốc Thành.

Đền phong khúm núm con từ bệ,

Thành Cốc mơ màng đã tới nơi.

(Hồng Đức Quốc Âm).



THÀNH ĐỒNG LUỸ SẮT

Thành luỹ: Bức thành xây lên, hoặc đắp đất cao để chống giặc. Đồng sắt: Kim loại, dùng để chỉ sự kiên cố.

Thành đồng luỹ sắt ý chỉ thành luỹ kiên cố, vững chắc, quân giặc khó bề đánh phá được.



Núi đất nửa năm ngăn giặc,

nào thành đồng luỹ sắt khắp nơi.

(Văn Tế Trương Định).

 

THÀNH HẠ YÊU MINH 

Thành hạ: Dưới thành. Yêu minh: Bắt buộc người phải thề ước với mình.

Thành hạ yêu minh là nói bắt thề nguyền dưới chân thành.



Tin lời thành hạ yêu minh,

Ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng.

(Truyện Kiều).



THÀNH HOÀNG THỔ CÔNG 

Hai vị Thần do nhân gian sùng tín mà thờ cúng.



Thành Hoàng: Một vi Thần trông coi khu vực một làng hay một thành.

Thổ Công: Một vị Thần coi đất đai ở khu vực nhỏ nơi nào đó.

Bạc Sinh quỳ xuống vội vàng,

Quá lời nguyện hết Thành Hoàng Tổ công.

(Truyện Kiều).



THÀNH HỒ XÃ THỬ 

Thành hồ: Cáo ở bờ thành. Xã thử: Chuột ở nền xã, nơi vua tế trời đất.

Thành hồ xã thử là cáo ở bờ thành, chuột ở nền xã, là nơi không ai dám đào tổ mà bắt, vì sợ lở bờ thành hay làm sụp nền xã. Nói ví với những người chuyên cậy thân thế.

Xem: Xã thử thành hồ.

Miễn hết lòng báo nghĩa quân vương,

Sá chi đảng thành hồ xã thử.

(Nhạc Hoa Linh).



THÀNH Ý 

Thành: Chân thật. Ý: Điều suy nghĩ trong bụng.

Thành ý là những ý nghĩ chân thật.



Thục vương thành ý khẩn cầu,

Bỗng đâu giang sứ hiện vào kim qui.

(Quốc Sử Diễn Ca)



THÀNH LIỀN

Bởi chữ “Liên thành  ”, là những thành trì liền với nhau.

Điển Bắc Sử chép: Nước Triệu được hai hòn ngọc bích của Biện Hoà tìm được tại núi Kinh Sơn. Sau vua nước Tần viết thư xin đem mười lăm thành trì liền nhau để đổi viên ngọc ấy.

Sau nầy, vật gì quý giá gọi là liên thành. Như: Ngọc liên thành là viên ngọc quý giá.



Thành liền mong tiến bệ rồng,

Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



THÀNH LOA

Còn gọi là Cổ Loa thành , một cái thành xây hình xoắn ốc do vua Thục An Dương Vương dựng lên, thuộc tỉnh Vĩnh Yên ngày nay.



An Vương còn cứ thành Loa,

Luận binh chư tướng chẳng hoà với nhau.

(Thiên Nam Ngữ Lục).



THÀNH NHỚ BỂ PHIỀN

Nỗi nhớ chất ngất cao như thành trì, ưu phiền mênh mông như biển cả.



Cớ chi nam bắc ỷ khôn,

Sớm xây thành nhớ hôm tuôn bể phiền.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



THÀNH SẦU

Do chữ “Sầu thành  ”. Sầu là buồn phiền rầu rĩ. Thành là bức tường thành.

Thành sầu là nỗi sầu muộn lớn lao bị vây bọc bởi những bức tường thành.

Xem: Sầu thành.



Cũng toan gỡ mối tơ vò,

Thành sầu cao ngất phá cho tan tành.

(Quan Âm Thị Kính).



Thành sầu muôn trượng xây nên đợt,

Bể thảm ba đông chất chứa đầy.

(Lâm Tuyền Kỳ Ngộ).



Tả nỗi thảm thêm đau mấy đoạn,

Mượn bút hoa đắp cạn thành sầu.

(Nữ Trung Tùng Phận).



Biển hoạn dập dồi thương bấy trẻ,

Thành sầu chất chứa cám cho gia.

(Đạo Sử).



THÀNH SỰ TẠI THIÊN 

Thành sự: Việc hoàn thành, việc nên. Tại thiên: Bởi nơi trời.

Thành sự tại thiên nên việc ở nơi Trời.

Câu này là lời than của Gia Cát Khổng Minh, lúc dụ Tư Mã Ý vào Hồ Lô cốc để dùng lửa đốt hang. Khi lửa vừa phựt cháy thì có cơn mưa đổ xuống dập tắt đám lửa. Ông than rằng: Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên  , , nghĩa là mưu kế thì ở người, nên việc là ở trời.

Mới hay thành sự tại thiên,

Một lời nói cợt mà nên vợ chồng.

(Nữ Tú Tài).



THÀNH TÂM 

Thành tâm là lòng thành thật hay thật tâm.



Tâm của con người có tâm thật còn gọi là chân tâm hay Phật tánh và tâm giả là tâm chúng ta đem ứng xử hằng ngày trong cuộc sống.

Sống trên thế gian, trong vô số kiếp chúng ta không dùng chơn tâm ra để sống ở đời, mà chỉ dùng tâm giả. Vì vậy, chúng ta mới bị luân hồi trong sinh tử.

Sách Trung Dung rất coi trọng “Thành tâm” hơn các đức tính khác, và cho rằng: “Duy Thiên địa chí thành vi năng tận kỳ tính; năng tận kỳ tính tắc năng tận nhân chi tính; năng tận nhân chi tính tắc năng tận vật chi tính; năng tận vật chi tính tắc khả dĩ tán Thiên địa chi hóa dục, khả dĩ tán Thiên địa chi hóa dục tắc khả dĩ dữ Thiên địa tham hỹ  , ; , ; , ; , ; , ” nghĩa là “chí thành” có thể giúp vào việc hóa dục của Trời đất nên có thể sánh cùng Trời đất: Người có thành tâm mới có thể phát huy đến cùng cực cái bản tính của mình; mà hễ phát huy đến cùng cực cái bản tính của mình thì có thể phát huy đến cùng cực cái bản tính của người; có thể khiến người phát huy đến cùng cực cái bản tính của người thì có thể khiến vật thực hành đến cùng cực bản tính của vật, có thể khiến vật thực hành đến cùng cực bản tính của vật, thì có thể giúp vào việc hóa dục của Trời đất; có thể giúp vào việc hóa dục của Trời đất thì có thể sánh cùng Trời đất.

Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương,

Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương.

(Kinh Cúng Tứ Thời).



THÀNH TÍN 

Thành: Lòng thành thật. Tín: Hay tín tâm, tức là lòng tin tưởng, đức tin.

Thành tín là lòng thành thật và tin tưởng.

Bất cứ một Tôn giáo nào cũng lấy lòng tin tưởng làm gốc. Lòng tin rất cần thiết cho người theo Đạo và giữ Đạo. Có được lòng tin con người mới vững vàng tu học, không có lòng tin sớm muộn gì cũng ngã.

Song lòng tin phải có trí phán xét, chỉ nên hướng về nẽo chánh, điều lành. Chớ không nên bạ đâu tin đó, tin một cách cực đoan, không phân biệt chánh tà thì rất hại cho đức tin ta lắm vậy.

Có lòng tin vào Trời, Phật và các Đấng Thiêng Liêng, tin tưởng có linh hồn bất tiêu bất diệt thì chúng ta mới sùng bái, học theo đức háo sinh của các Đấng, không dám tạo ác nghiệp mà phải gieo nghiệp lành để được thoát ra luân hồi sinh tử.

Vọng Thượng Đế chứng lòng thành tín,

Chúng sanh đồng bái kỉnh khẩn nguyền.

(Giới Tâm Kinh).



THÀNH THANG 

Thành Thang là vị vua sáng nghiệp nhà Thương, họ Tử tên Lý, lại có tên là Thiên Ất.

Vua Kiệt nhà Hạ vô đạo, thiên hạ loạn lạc, Thành Thang đem binh đi đánh, bắt đày vua Kiệt ở Nam Sào, phế nhà Hạ dựng quốc hiệu nhà Thương, tại vị được ba mươi năm. Thành Thang nổi tiếng là một vị vua nhân đức nhất trong lịch sử cổ đại Trung Quốc.

Xem: Lưới Thang.



Chúa bèn thể đức Thành Thang,

Tưởng xưa Kiệt địch sẽ thương chẳng hoài.

(Thiên Nam Ngữ Lục).



Cờ Thành Thang sao không thấy

phất, bỏ liều con đỏ chông gai;

(Gia Định Thất Thủ Phú).



Thành Thang muôn mặt lưới trường,

Biết khôn cầm thú kiếm đường cao sâu,

(Ngụ Đời).



THÀNH UỔNG TỬ

Thành Uổng Tử, hay Uổng Tử thành , một cái thành nơi Âm phủ, dùng để giam giữ các vong hồn của người khi ở dương thế bị chết do tự tử.

Ngọc Lịch Minh Kinh có viết: “Thế tục nói sái rằng, ai bị thác oan thì hồn bị cầm nơi thành Uổng Tử. Đời nghe lưu truyền lâu, cũng tin là thiệt! Sao không xét cho đủ lý, người đã thác oan còn cầm ngục là nghĩa gì? Cho đi thong thả chớ không cấm cố, song nán đợi kẻ giết mình xuống Âm phủ, hành tội trước mặt hồn oan cho hết tức, rồi mới cho đi đầu thai. Còn thành này (Thành Uổng Tử) để giam những kẻ vô cớ giận lẩy mà tự giết mình, trầm mình, thắt họng, uống thuốc độc…giam đỡ đợi hành tội, chưa đặng đầu thai”.

Thành Uổng Tử cheo leo gớm ghiếc,

Cầm hồn oan rên xiết khóc than.

(Kinh Sám Hối).



THÀNH XUÂN

Do chữ “Xuân thành  ”, chỉ nơi Kinh Đô. Thơ Hàn Hoàng có câu: Xuân thành vô xứ bất phi hoa  , nghĩa là thành xuân chẳng có chỗ nào không có hoa bay.



Phẩm đề biếng giở thư đồng,

Thành xuân đã rõ mây lồng thức năm.

(Hoa Tiên Truyện).



THẠNH TRỊ 

Hay “Thịnh trị”.



Thạnh: Dồi dào. Trị: Công việc nhà nước sửa sang, dân chúng sống trong cảnh yên ổn.

Thạnh trị Đất nước giàu mạnh, dân chúng yên ổn.



Già phò gậy đến xem thạnh trị;

Trẻ ngậm cơm mừng gặp thái bình.

(Sãi Vãi).



Thái bình trăm họ nhìn chơn Chúa,

Thạnh trị ba châu trổ trí Thần.

(Đạo Sử).



THAO LƯỢC 

Như chữ “Lược thao”, hay “Tam lược lục thao”.

Lục thao là tên cuốn sách của Lữ Vọng gồm: Văn thao, võ thao, long thao, hổ thao, báo thao, khuyển thao.

Tam lược là quyển sách tương truyền của Hoàng Thạch Công soạn.

Thao lược hoặc Lược thao là chữ dùng để chỉ người giỏi mưu kế hay binh pháp.

Vẻ chi một chút hồ trần,

Những tài thao lược kinh luân đâu nào.

(Nhị Độ Mai).



Trên, thì tu Nghiêu, Thuấn, Võ, Thang;

Dưới, thì tu kinh luân thao lược.

(Sãi Vãi).



Thao lược từ xưa đã mấy nhà,

Ðời qua tên tuổi cũng đều qua.

(Đạo Sử).



THÁO CŨI SỔ LỒNG

Cũi và lồng là dụng cụ để nhốt cầm thú.

Tháo cũi sổ lồng mở cũi giở lồng ra để thả chim thú. Nghĩa rộng dùng để chỉ sự giải phóng cho người bị giam giữ cầm cố.

Thuyền quyên ví biết anh hùng,

Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi.

(Truyện Kiều).



THẢO AM 

Thảo: Cỏ tranh. Am: Nơi người tu hành ở.

Thảo am cái lều, cái am nhỏ lợp tranh, dành cho người ở ẩn, hay người xuất gia tu hành.



Cùng nhau nương cửa Bồ đề,

Thảo am đó cũng gần kề chẳng xa.

(Truyện Kiều).



Bóng mây bỗng kéo quanh nhà,

Thảo am thoát đã đổi ra lâu đài.

(Bích Câu Kỳ Ngộ).



THẢO Dà

Thảo dã là cánh đồng có nhiều cỏ, đồng nội (khác hẳn với phố phường) hay cỏ ở đồng nội, dùng để chỉ sự quê mùa.

Thảo dã còn có nghĩa là chỗ ở của kể ẩn sĩ không chịu ra làm quan.

Dạy rằng đuổi trâu ra thảo dã,

Cho nó ăn ba miếng đỡ lòng.

(Lục Súc Tranh Công).



THẢO HÀI 

Thảo: Cỏ. Hài: Giày mang vào chân.

Thảo hài là giày cỏ hay dép cỏ, tức là lấy cỏ kết thành đôi giày, hay dép. Thảo hài là giày, dép giản tiện, dành cho người tu, nên dùng để chỉ người tu hành.

Xem: Giày cỏ.

Muốn đi cho tận trường sanh địa,

Phải đổi giày sen lấy thảo hài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THẢO LƯ 

Thảo: Cỏ. : Nhà.

Thảo lư là nhà lợp bằng cỏ tranh.



Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,

Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư.

(Truyện Kiều).



THẢO MỘC 

Thảo: Các loài cỏ. Mộc: Các loài cây.

Thảo mộc là danh từ gọi chung các loài cây cỏ. Theo sự tiến hoá của “Bát hồn” trong triết lý của đạo Cao Đài, thảo mộc là loài được tiến hoá từ vật chất lên một bậc, tức là vật chất, thảo mộc, thú cầm, nhân loại, Thần, Thánh, Tiên và Phật.



Thượng cầm hạ thú lao xao,

Côn trùng thảo mộc loài nào chẳng linh.

(Kinh Sám Hối).



THẢO MUỘI 

Thảo: Cỏ. Muội: Tối tăm.

Thảo muội chỉ lúc trời đất còn sơ khai, cảnh hoang vu, cỏ cây tối tăm mù mịt.

Kinh Dịch nói: Thiên tạo thảo muội  , nghĩa là trời tạo ra thảo muội.

Gặp cơn thảo muội cơ trời,

Đem thân bồ liễu theo loài bồng tang.

(Quốc Sử Diễn Ca).



THÁP NHÀN

Bởi chữ “Nhạn tháp  ”, tức là tháp chim nhạn, một cái tháp trên đó có dựng bia, khắc tên các ông Tiến sĩ. Tháp nhàn dùng để chỉ việc công danh thi đỗ.

Xem: Tháp nhạn.

Đất bằng một tiếng sấm vang,

Bảng hùm tỏ Phạm tháp nhàn diễu Trương.

(Sơ Kính Tân Trang).



THÁP NHẠN 

Tức là tháp chim nhạn.

Đời Đường, nhà sư Trần Huyền Trang ở chùa Từ An có dựng một cái tháp rất cao, gọi là “Nhạn tháp”, bởi vì khi xây xong có một con chim nhạn bay ngang qua chạm vào tháp rơi xuống, mới đặt tên như vậy.

Dưới nhạn tháp có dựng bia khắc tên các ông Tiến sĩ thời bấy giờ. Nên điển “Tháp nhạn” dùng để nói việc công danh, thi đỗ.

Sách có câu: Ngao đầu trúng tuyển quý chân quý, nhạn tháp đề danh vinh cánh vinh  , , nghĩa là trúng tuyển được ngao đầu thật là quý giá, tháp nhạn được ghi tên thật là vinh hiển.

May mà tháp nhạn cao bay,

Trấn quan khỏi tiếng bằng nay tư tình.

(Dương Từ Hà Mậu).



THÁP TÙNG 

Hay “Tháp tòng”. Tháp: Cắm vào. Tùng: Theo.

Tháp tùng nghĩa là đi chung vào một đoàn, để làm theo với tập thể.

Lần hồi đến chốn giang trung,

Tìm thuyền ta sẽ tháp tùng với nhau.

(Lục Vân Tiên).



Nay con chưa đủ thông đường Ðạo,

Cứ ngóng theo chơn Lão tháp tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THĂM VÁN BÁN THUYỀN

Thăm ván bán thuyền là mới đi thăm hỏi ván định mua về để đóng thuyền, mà đã lo bán thuyền cũ rồi. Thành ngữ này có ý chê những người quá vội vàng, chưa có cái mới mà đã coi rẻ cái cũ.



Làm cho trông thấy nhãn tiền,

Cho người thăm ván bán thuyền biết tay.

(Truyện Kiều).



Còn theo thăm ván bán thuyền,

Trông chi giữ mảnh hương nguyền cùng nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THĂNG ĐƯỜNG 

Thăng: Lên. Đường: Nơi làm việc của quan.

Thăng đường tức là các quan tỉnh, phủ huyện ngày xưa ra nơi văn phòng làm việc để tiếp xúc với dân chúng như thâu đơn từ hay xử kiện…



Thăng đường chàng mới hỏi tra,

Họ Đô có kẻ lại già thưa lên.

(Truyện Kiều).



THĂNG KINH 

Thăng: Đi đến. Kinh: Kinh đô.

Thăng kinh là đi đến kinh đô.



Bấy giờ phu quý, phụ vinh,

Đưa tin sẽ đón thăng kinh cũng vừa.

(Nhị Độ Mai).



THĂNG LONG 

Khi Lý Thái Tổ lên ngôi, thấy đất Hoa Lư chật hẹp không có thể mở mang ra làm chỗ đô hội được, bèn định dời đô về La Thành. Tháng 7 năm Thuận Thiên nguyên niên 1010, thì khởi sự dời đô. Lúc ra đến La Thành, Thái Tổ lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng hiện ra, bèn đổi Đại La thành là Thăng Long thành, tức thành Hà Nội bây giờ. Cải Hoa Lư làm Trường An phủ, và Cổ Pháp làm Thiên Đức phủ.



Đầu năm cải hiệu Thuận Thiên,

Thăng Long mới đổi đặt tên kinh thành.

(Quốc Sử Diễn Ca).



Thăng Long bao thuở nâng hùng khí,

Gia Ðịnh từ nhiên chấp ấn quyền.

(Đạo Sử).



THĂNG TRẠC 

Thăng: Lên chức. Trạc: Nhổ lên.

Thăng trạc tức là được lên chức hàm.



Ba năm thăng trạc về chầu,

Thổ quan Lý Tiến mới đầu Nam nhân.

(Quốc Sử Diễn Ca).



THẮNG PHỤ 

Thắng: Hơn. Phụ: Thua.

Thắng phụ là hơn thua. Tiếng dùng để chỉ sự thắng bại của cuộc giao tranh giữa hai bên với nhau.



Trên đời hằng có lẽ hưng vong,

Trước trận dễ không khi thắng phụ?

(Nhạc Hoa Linh).



THÂY ĐI THỊT CHẠY

Theo quan niệm xưa, con người do cha mẹ đào tạo ra hình hài thể xác, song đã có tấm thân mà không trau giồi, học hỏi để được khai hóa về tinh thần thì con người chỉ như một khối thịt tùng theo vật dục mà hành động, không có tri giác, không hiểu lễ giáo, như người xưa đã gọi “Thây đi thịt chạy”, tức không trọn bổn phận là một con người sống trong gia đình và xã hội.



Đừng chịu phận thây đi thịt chạy,

Uổng hột cơm tấm vải của đời.

(Phương Tu Đại Đạo).



THẦY ĐỊA LÝ

Địa lý là một ngành nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên xảy ra trên mặt địa cầu, quan hệ với cuộc sống của con người.

Thầy địa lý là một ông thầy nghiên cứu về phong thuỷ có ảnh hưởng về nhân sinh, như việc cất nhà cửa, chôn cất… Cũng như thầy thuốc, nhiều ông thầy địa lý học hỏi, nghiên cứu không sâu rộng, chuyên gạt người, nên cũng bị người đời châm biếm như mấy thầy lang băm vậy.

Hòn đất mà biết nói năng,

Thì thầy địa lý hàm răng không còn.

(Ca Dao)


Thấy quân quỷ tốt cầm roi,

Dẫn thầy địa lý hỏi đòi chứng tra.

(Dương Từ Hà Mậu).



THẦY NHU

Hay “Thầy Nho”, bởi chữ “Nho sĩ  ”.

Thầy Nhu chỉ người theo học và dạy theo đường lối Nho giáo của Khổng Tử.

1.- Thầy Nhu:



Ngư rằng: Vốn thật thầy Nhu (nho),

Lòng cưu gấm nhiễu, lại giàu lược thao.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).

2.- Thầy Nho:

Giơ vọt ngựa ấy nứt danh Châu Hậu,

lấy ai đủ thập thần trị quốc,

mà thầy Nho rằng trợ Kiệt nên tin!

(Tần Cung Nữ).



THẤY NHÀN

Thấy nhàn tức là thấy chim nhạn.

Chim nhạn thường được ví cho tin tức qua lại, nên thấy nhàn có nghĩa là được tin tức, hay thư từ gửi đến.

Thấy nhàn, luống tưởng thư phong,

Nghe hơi sương, sắm áo bông sẵn sàng.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



THẦY TĂNG THẦY LỘ

Thầy Tăng tức là Tăng Tử hay Tăng Sâm, học trò giỏi của Đức Khổng Tử, tác giả của quyển Đại Học.

Tăng Tử rất có hiếu, được xếp vào một trong hai mươi bốn người con hiếu. Xem: Tăng Sâm.

Thầy Lộ còn gọi là Tử Do, họ Trọng, tên Do, người đời Xuân Thu, học trò Đức Khổng Tử. Ông là người rất có hiếu, thường đổi gạo để kiếm tiền nuôi mẹ.

Xem: Tử Lộ.

Anh tỷ cái phận anh,

Chẳng thà ở lều tranh.

Như thầy Tăng, thầy Lộ,

Cũng không ham mộ,

Như Vương Khải Thạch Sùng,

Đạo người giữ vẹn bần cùng sá bao.

(Ca Dao Việt Nam).



THẦY VIÊN BÓI THUỶ NGƯ

Thầy Viên tức là Viên Thủ Thành, một người thầy bói giỏi, thời nhà Đường. Ông thường bói cho các ngư dân nơi nào có nhiều cá để họ đến bắt.



Biếng theo ông Lữ câu danh lợi,

Sánh với thầy Viên bói thủy ngư.

(Dương Từ Hà Mậu)



THÂM KHUÊ 

Thâm: Sâu, kín đáo. Khuê: Phòng của phụ nữ.

Thâm khuê là khuê phòng thâm nghiêm, tức phòng kín đáo của đàn bà con gái.



Hồng lâu còn khóa then sương,

Thâm khuê còn rấm mùi hương khuynh thành.

(Cung Oán ngâm Khúc).



Thâm khuê vắng ngắt như tờ,

Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương gieo.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



Xưa nay ở chốn thâm khuê,

Dù ong hay bướm chưa hề biết ai.

(Quan Âm Thị Kính).



THÂM NGHIÊM 

Thâm: Sâu. Nghiêm: Nghiêm ngặt.

Thâm nghiêm chỉ nơi sâu kín nghiêm mật, ít có người lui tới.



Ngại chăng động tiếng đàn bà,

Thâm nghiêm chi để xông pha người ngoài.

(Hoa Tiên Truyện).



THÂM U 

Thâm: Sâu kín. U: Tối tăm.

Thâm u chỉ nơi sâu kín tối tăm.



Lạnh lùng thay giấc cô miên,

Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



THÂN BÈO TRÔI NỔI

Thành ngữ nói thân phận của người đàn bà con gái như cánh bèo trôi nổi trên mặt nước, không biết về đâu.



Dòng Tương chảy thân bèo trôi nổi,

Chẳng ai thương chữa lỗi binh lời.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THÂN CÔI

Dịch từ chữ “
Cô thân  ”.

Thân côi tức là tấm thân lẻ loi, côi cúc một mình.

Xem: Cô thân.

Chàng dầu hưởng Thiên Tào quyền phép,

Đỡ đường trần chật hẹp thân côi.

(Kinh Thế Đạo).



THÂN CUNG 

Thân: Tự mình làm lấy. Cung: Bày tỏ hay thú nhận một điều gì.

Thân cung là tự mình thú nhận (Tức cung khai).



Cúi đầu quỳ trước sân hoa,

Thân cung nàng mới dâng qua một tờ.

(Truyện Kiều).



THÂN CHINH 

Thân:Tự mình. Chinh: Đi đánh giặc.

Thân chinh là nói vua tự cầm quân đi đánh giặc.



Thân chinh trỏ ngọn thiên qua,

Chiêm nam, Nguyên bắc đều là dẹp tan.

(Quốc Sử Diễn Ca).



THÂN DANH 

Thân: Thân mình. Danh: Tiếng tăm.

Thân danh là thân thế và danh giá của con người.



Đóng chặt cửa giữ nguyên trinh tiết,

Trọng thân danh bền nét đào yêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THÂN GÁI HẠT MƯA

Nói thân phận người con gái chìm nổi, linh đinh.

Do câu Ca dao: Thân em như hạt mưa sa, Hạt rơi xuống giếng hạt ra ruộng cày, ví với thân phận trôi nổi của người đàn bà, con gái.

Trương rằng: Thân gái hạt mưa,

Biết đem mình ấy bây giờ cậy đâu.

(Truyện Phan Trần).



THÂN GÓA

Goá tức goá bụa, chỉ người đàn bà chồng đã chết, còn gọi là quả phụ.

Thân goá có nghĩa là tấm thân chịu goá bụa.

Một thân góa tang y lại mặc,

Chống gậy lê nhúc nhắc đưa linh.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THÂN HẦU

Thân Hầu là cha của Khương Hoàng hậu đời Châu U Vương (Đông Châu).

Vua U Vương mê nàng Bao Tự, phế bỏ Khương Hoàng hậu và Thái tử của Nghi Cửu, Thân Hầu dâng sớ can vua, nhưng U Vương nổi giận sai tướng đem binh đánh Thân Hầu.

Thân Hầu cầu viện binh Khuyển Nhung để giúp cho Thái tử, không ngờ Nhung chúa lại đánh giết U Vương, chiếm Bao Tự và vơ vét vàng bạc không kể xiết. Thân Hầu phải nhờ các chư Hầu mới dẹp được, Tây Kinh vì đó mà tan nát nhà Châu.



Lúc Khuyển Nhung phá phách nhà Chu,

Sãi giận gã Thân Hầu thất kế.

(Sãi Vãi).



THÂN HẦU PHẬN THIẾP

Thân hầu: Đem thân làm người hầu. Phận thiếp: Chịu phận làm kẻ thiếp.

Thân hầu phận thiếp ý nói người đàn bà con gái chịu làm thân phận hầu thiếp, tức làm vợ bé, vợ mọn.



Dạy cho chán thân hầu phận thiếp,

Kiếp chia chồng là kiếp vô duyên.

(Phương Tu Đại Đạo).



THÂN HOÀ LÀM MỘT

Thân hòa làm một là nói vợ chồng thương yêu nhau, hòa hợp nhau dù là hai người nhưng coi như là một. Bộ Dịch Trình truyện viết: Sự tương cảm của muôn vật ở thế gian, không gì bằng nam nữ. Nam nữ tuy là hai cá thể nhưng khi kết hợp nhau, vì tình yêu vì bổn phận trở nên một thân vậy. Sách Ấu Học nói: Nam Nữ hữu tương cảm chi nghĩa; phu phụ vi nhất thể chi thân  , , nghĩa là nam nữ có cái nghĩa cảm kích nhau, vợ chồng là tình thân một cá thể.



Niềm ân ái thân hòa làm một,

Nghĩa sơ giao khắc cốt ghi xương.

(Kinh Thế Đạo).



Bạn trăm tuổi thân hòa làm một,

Dầu sang hèn xấu tốt cũng duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

THÂN HỒ TÂM HỚN 

Tấm thân thì đang ở Hồ, tức phương bắc, còn lòng thì quay về Hớn.

Nói tích Vương Tường, tức Chiêu Quân bị cống Hồ, một nước thuộc rợ phương bắc, mà tâm nàng lại hướng về nhà Hớn ở Trung Nguyên.

Xem: Chiêu Quân.



Thiếp nay cũng giống như nàng,

Thân Hồ tâm Hớn đôi đàng khó nguyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THÂN LA

La là đằng la dây sắn dây bìm, một loại dây leo ở các cây lớn.

Thân la tức thân phận dây leo, chỉ thân phận người phụ nữ phải nương nhờ chồng.

Bóng kiều mong gởi thân la,

Biết đem rìu búa để mà cậy ai?

(Hoa Tiên truyện).



THÂN LƯƠN

Ví thân phận con người có cuộc sống nhơ nhớp như thân con lươn chui rút ở trong chốn bùn nhơ bẩn



Thân lươn bao quản lấm đầu,

Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa!

(Truyện Kiều).



THÂN MÒN GỐI RUN

Thân mòn: Thân xác mòn mỏi. Gối run: Đầu gối run rẩy.

Thân mòn gối run ý nói người già cả, suy nhược, tay run gối mỏi.



Mẹ lo trong lúc còn non,

Vợ con lo lúc thân mòn gối run.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THÂN NHẸ LÔNG HỒNG

Làm người ai cũng phải chết, nhưng có cái chết nặng và cái chết nhẹ nhàng.

Chết vì quốc gia dân tộc là cái chết xem nhẹ như lông hồng. do câu nói của Tư Mã Thiên: Nhân cố hữu tử, tử hoặc trọng ư Thái Sơn, hoặc khinh ư hồng mao  , , , nghĩa là người ta vẫn có cái chết, song cái chết đáng nặng như núi Thái Sơn, cũng có cái chết đáng nhẹ như lông chim hồng. Ý muốn nói có sự đáng chết và không đáng chết.

Vẻ chi thân nhẹ lông hồng,

Thăm lênh để nặng tấm lòng tiểu thư.

(Nhị Độ Mai).



THÂN TỘC 

Thân: Gần. Tộc: Giòng họ.

Thân tộc dùng để chỉ những người bà con thân thuộc gần trong dòng họ.



Lại còn có tánh tình hiểm độc,

Xúi phân chia thân tộc ruột rà.

(Kinh Sám Hối).



Nỗi nhà, nỗi bếp, nỗi lân,

Nỗi trong thân tộc, nỗi gần, nỗi xa.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THÂN VONG 

Thân: Thân mình. Vong: Chết, mất.

Thân vong là tấm thân đã mất, tức đã chết rồi.



Phong Lai trở chẳng kịp tay,

Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.

(Lục Vân Tiên).



THẦN ĐỒNG 

Thần: Tài trí phi thường. Đồng: Đứa bé.

Thần đồng là một đứa bé đặc biệt thông minh, tài trí vượt hơn tuổi đời. Thần đồng rất hiếm có trong đời.



Trót thông mã sử Lục kinh,

Mới nên tám tuổi nổi danh Thần đồng.

(Trọng Tương Vấn Hớn).



THẦN HÔN 

Thần: Buổi sáng. Hôn: Buổi tối.

Do câu: Thần định hôn tỉnh   trong Kinh Lễ, tức là bổn phận làm con, tối đến phải dọn dẹp chỗ cha mẹ ngủ, sáng ra phải vào thăm cha mẹ, đêm qua có ngủ được không. Đó gọi là Thần hôn.

Xem: Thần hôn định tỉnh.

Rừng thu từng biếc xen hồng,

Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn.

(Truyện Kiều).



Có ta một chút má đào,

Thần hôn cũng đã ra vào làm khuây.

(Quan Âm Thị Kính).



Con từ du học bốn phương,

Thần hôn thành lỗi, đạo thường làm con.

(Truyện Phan Trần).



Đạo người trong có ngũ luân,

Thần hôn thì tiếc song thân đã rồi.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



THẦN HÔN ĐỊNH TỈNH 

Hay “Hôn định thần tĩnh  ”, có nghĩa là buổi tối hầu hạ cha mẹ cho đến lúc nghỉ yên, buổi sáng đến thăm cha mẹ xem giấc ngủ hồi hôm có bình thường không. Lễ Ký chép: Phàm vi nhân tử chi lễ, đông ôn nhi hạ sảnh, hôn định nhi thần tỉnh  , , , nghĩa là phàm bổn phận của người làm con, mùa đông lo cho cha mẹ ấm, mùa hè lo cho cha mẹ mát, buổi tối lo cho cha mẹ yên tĩnh nằm, buổi sớm hỏi han cha mẹ ngủ dậy có khoẻ mạnh không?

Nghĩa rộng: Chăm sóc cha mẹ.

Năm canh gió mát trăng trong,

Thần hôn định tỉnh một lòng chớ sai.

(Thanh Hoá Quan Phong).



THẦN KINH 

Thần Kinh là một danh từ dùng để chỉ nơi vua ở, cũng gọi là Ngọc kinh hay Hoàng châu, cùng nghĩa với Kinh đô, Đế đô.

Thần kinh được dùng để nói tăng thêm vẻ uy nghi cho Kinh Đô nhà vua.

Bóng kỳ xý giã ngoài quan ải,

Tiếng khải ca trở lại Thần kinh.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



Qua dặm liễu, khỏi ngàn mai,

Ướm đào hỏi mận tới vời Thần kinh.

(Truyện Phan Trần).



Cho cam lặn suối qua rừng,

Thần kinh chỉ nẻo tách chừng thăm tin.

(Nữ Tú Tài).



THẦN MÀY TRẮNG

Bởi chữ “Bạch my thần  ” là vị thần có cặp lông mày trắng.

Theo sách Dạ Hoạch Biên, những nhà kỹ nữ, lầu xanh, nhà thổ thường có thờ thần mày trắng, mặt đỏ có râu dài, cỡi ngựa, tay cầm siêu đao.

Có người cho rằng thần mày trắng là Quản Trọng, bởi vì ông ấy ngày xưa có nghĩ ra cách tập hợp nhóm đàn bà con gái mua vui cho khách đàn ông để thương gia các nơi tìm đến.



Đưa nàng vào lạy gia đường,

Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh!

(Truyện Kiều).



Nước non lại gặp thần mày trắng,

Quả kiếp còn đeo nợ má hồng.

(Thơ Chu Mạnh Trinh).



THẦN MỘNG 

Thần: Thần. Mộng: Chiêm bao.

Thần mộng là giấc mộng thiêng liêng, hoặc một giấc mộng thấy các đấng về chỉ bảo điều gì.



Nhớ lời thần mộng rõ ràng,

Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây!

(Truyện Kiều).



THẦN NÔNG 

Theo sách Thượng Thư Đại Truyện thì Thần Nông là một vị vua thứ ba trong thời Tam Hoàng, đó là Toại Nhân , Phục Hy , Thần Nông .

Thần Nông họ Khương, hiệu là Viêm Đế , là vị vua thời Thượng cổ, trị vì sau vua Phục Hy. Ngài có công dạy dân đẽo gỗ chế ra cày bừa để làm ruộng, hợp chợ búa để dân trao đổi hóa vật, nếm các thứ cây cỏ để làm vị thuốc cho dân trị bệnh.

Đến thời vua Thần Nông con người mới biết định cư, sống hợp quần theo nông nghiệp. Ngài có công lớn trong việc tìm các loại ngũ cốc, khoai củ để làm lương thực cho dân chúng thời bấy giờ, và mãi mãi sau này. Vua truyền được 8 đời, cộng 500 năm.

Xem: Viêm Đế.

Nước ta Nam Việt phân phong,

Hiệu Hồng Bàng thị vốn dòng Thần Nông.

(Hạnh Thục Ca).



Từ xưa có họ Thần Nông,

Thay trời trị vật, tấm lòng yêu dân.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



Công Thần Nông hóa dân buổi trước,

Dạy khôn ngoan học chước canh điền.

(Kinh Thế Đạo).



Chí Ðồng đắc kiến diện Thần Nông,

Bác ái tương tâm khấn bạch hồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THẦN NỮ 

Tức Thần nữ núi Vu Sơn, có nhiệm vụ sớm làm mây, tối làm mưa mà vua Sở Tương Vương nhân đi chơi ở đầm Vân Mộng, đã gặp trong giấc chiêm bao.

Xem: Vu Sơn.

Trướng loan nghiêng ngửa gối loan,

Thắm duyên Thần nữ phỉ nguyền Tương quân.

(Nữ Tú Tài).



Sớm trông mây, tối trông mưa,

Phưởng phất non Vu hồn Thần Nữ.

(Tuý Sơn Vân Mộng).



THẦN PHÙ 

Thần Phù là một địa danh ở Việt Nam, đó là ngọn núi và cửa biển ở xã Thiết Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Từ núi Tam Điệp, tức đèo Ba Dội, kéo dài ba bốn muơi dặm, bên trong có một con sông nhỏ chia những ngọn núi cao làm hai dãy: Một dãy về phía nam là núi Thần Phù, một dãy về phía bắc từ làng Mỹ Quan đến làng Trị Nội. Trên có hai động là động Từ Thức và động Bạch Ất. Đi ngang qua Thần Phù là ra đến cửa biển, thật là một nơi nước biếc non xanh trông rất đẹp đẽ.



Lênh đênh qua cửa Thần Phù,

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

(Ca Dao Việt Nam).



Phân cõi Nam Châu đất Ái Châu,

Bút Vương khôn mạc cảnh Thần Phù.

(Hồng Đức Quốc Âm).



Trải hang Nghê qua cửa Thần Phù,

Dựa bãi Hạc tới chùa Non Nước.

(Tuý Sơn Vân Mộng).



THẦN QUY 

Rùa Thần.

Rùa là một loài vật trong tứ linh. Mai rùa ngày xưa thường dùng để bói toán, hơn nữa loài rùa tượng trưng đủ cả trời đất: Trên lưng tròn phù hợp với trời, bên dưới vuông phù hợp với đất. nên con rùa thường được gọi là Thần quy.

Theo cổ sử Việt Nam, thần kim quy có giúp Thục Đế xây dựng thành Cổ Loa.

Xem: Trọng Thuỷ Mỵ Châu.

Thần quy đem tiến Đào đường,

Bắc Nam từ ấy giao bang là đầu.

(Quốc Sử Diễn Ca).



THẦN SỰ QUÂN DĨ TRUNG 

Thần sự quân: Bề tôi thờ vua. Dĩ trung: Lấy lòng trung. Thần sự quân dĩ trung là bề tôi lấy lòng trung mà thờ vua.

Sách Luận Ngữ chép: Đinh Công vấn “Quân sử thần, thần sự quân, như chi hà?” Khổng Tử đối viết: “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung  : 使 , , ? : 使 , , nghĩa là vua Lỗ Định Công hỏi: Vua khiến bề tôi, bề tôi thờ vua nên như thế nào? Khổng Tử đáp: Vua lấy lễ mà khiến bề tôi, bề tôi lấy trung mà thờ vua.

Xem: Quân sử thần dĩ lễ.

Sãi muốn nói một chuyện:

Thần sự Quân dĩ trung”,

Sãi lại sợ Mãng, Tào sanh oán.

(Sãi Vãi).



THẦN TỈNH 

Thần tỉnh tức là “
Thần định hôn tỉnh  ”, là sớm thăm tối viếng.

Trong Kinh Lễ có dạy: Bổn phận làm con, tối đến phải dọn dẹp chỗ cha mẹ ngủ, sáng ra phải vào thăm cha mẹ, đêm qua có ngủ được không. Do đó mới có câu: Thần định hôn tỉnh  .



Viếng thăm hôm sớm song thân,

Trọn câu thần tỉnh ân cần cung Tiên.

(Kinh Thế Đạo).



THẦN TỪ PHẬT TỰ 

Thần từ: Nơi thờ Thần. Phật tự: Chùa Phật.

Thần từ Phật tự tức là nơi đặt tượng Thần Phật để cúng kính. Nơi thờ Thần gọi là từ hay đình, miếu, nơi thờ Phật gọi là chùa hay tự.



Hoặc là nương Thần từ, Phật tự,

Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông.

(Thập Loại Chúng Sinh).



THẦN THÁNH 

Theo nghĩa thông thường, Thần Thánh là những bậc có tài năng, có công nghiệp với đời, có đức hạnh, sau khi mất trở nên linh thiêng, hay được vạn linh sùng kính.

Theo triết lý đạo Cao Đài, Thần Thánh là hai quả vị trong bốn bậc dành cho người tu hành khi đắc quả: Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Xin Thần, Thánh ruổi dong cỡi hạc,

Xuống phàm trần vội gác xe tiên.

(Kinh Cúng Tứ Thời).



Lời sai khiến lòng đừng sanh nạnh,

Lịnh mẹ cha Thần Thánh cũng không bì

(Phương Tu Đại Đạo).



THẦN THÔNG 

Thần: Không lường được. Thông: Suốt.

Thần thông là nói người sáng suốt có thể thông đạt mọi sự, có pháp thuật biến hoá không lường.

Người tu hành đắc quả thành Tiên, Phật thì tự nhiên đạt được thần thông. Còn kẻ luyện được thần thông nhưng không qua sự tu hành, không tạo công đức thì không có quả vị.

Dặn thôi Thiện Hữu chử lời,

Thần thông biến hoá giữa nơi tiền đường.

(Tội Vợ Vợ Chịu).



Thần thông trói chặt Ma vương quái,

Dìu bước vạn linh đến cảnh nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THẦN TRUNG TỬ HIẾU 

Thần trung: Tôi ngay. Tử hiếu: Con thảo.

Thần trung tử hiếu là tôi ngay con thảo, tức làm tôi thì ngay với vua chúa, mà làm con thì thảo với mẹ cha.



Làm sao nên tiếng danh Nho,

Thần trung tử hiếu để cho khen cùng.

(Thanh Hoá Quan Phong).



THẦN XỈ 

Thần: Cái môi. Xỉ: Răng.

Thần xỉ là môi và răng. Hai bộ phận này cần phải phối hợp nhau, nếu không “Môi hở răng lạnh”.

Do vậy, người xưa quan niệm hai nước lân bang giao hảo nhau, thế như môi và răng, đừng để môi hở răng lạnh.

Muốn trăm năm nghĩa kết duyên hài,

Phải hai nước giao hòa thần xỉ.

(Nhạc Hoa Linh).



THẬN ĐỘC 

Thận: Thận trọng, tức là kỹ lưỡng không nên xem thường. Độc: Một mình.

Thận độc tức là cần nên dè dặt, cẩn thận khi ở một mình. Sách Đại Học có câu: Cố quân tử tất thận kỳ độc dã , nghĩa là cho nên người quân tử phải thận trọng khi ở một mình vậy. Ý nói không nên nghĩa bậy, làm bậy, tuy ở một mình nhưng có người hay biết, hay trời soi xét.



Thu nước mắt nghĩ câu thận độc,

Chong ngọn đèn ngâm khúc mạc ai.

(Tự Tình Khúc).



THẬP ÁC 

Thập ác là mười điều ác.



Mười điều ác, tức mười ác nghiệp do bởi thân, khẩu, ý tạo ra. Thân nghiệp thì có ba điều ác: Giết hại, trộm cắp, tà dâm; ngữ nghiệp có bốn điều: Nói dối, nói thêu dệt, nói chia rẽ, lời mắng chửi độc ác; ý nghiệp có ba: 
Tham lam, giận dữ, si mê.

Quản bao thập ác lục hình,

Giải thi thoát khổ diệt hình đoạt căn.

(Kinh Tận Độ).



THẬP BÁT GIÀ LAM 

Tức là “Thập bát La Hán  ”.

Do tích trong Phật giáo, xưa có vị phú hộ nuôi một con ngựa biết chuyện quá khứ vị lai và nói được tiếng người. Một hôm con ngựa báo cho chủ nó biết, ngày mai sẽ có 18 tên đến đánh cướp nhà nầy. Ông chỉ cần lo rượu thịt làm một bữa tiệc gồm 18 người ăn, rồi đúng 12 giờ đêm, ra đón bọn cướp ở ngã tư, mời chúng về ăn uống. Họ sẽ nhận lời, không gây hại ông đâu.

Khuya hôm sau, tiệc đã chuẩn bị xong, ông phú hộ ra ngã tư đón mời bọn cướp về nhà dự tiệc. Sau khi ăn uống xong, trong bọn có người hỏi ông phú hộ tại sao biết chúng đến mà lo bữa tiệc sẵn sàng. Ông chỉ con ngựa và cho biết tự sự. Bọn cướp xin cho xem con ngựa, và hỏi nguyên do nào mà ngựa lại bày cho chủ nó? Ngựa mới đáp rằng: Bởi xưa kia tôi thiếu nợ ông chủ tôi rất nhiều tiền, nay phải làm thân ngựa để trả dứt hết món nợ.

Tôi thương chủ tôi vì ông rất tử tế, nên báo sự việc của các ông để đền báo công ơn ông chủ. Những lời của con ngựa làm bọn cướp chợt tỉnh, chúng suy nghĩ chỉ vì món nợ tiền mà phải đầu thai thân ngựa mà trả nợ, nếu như cướp của giết người thì tội báo đến chừng nào. Thế rồi bọn cướp giác ngộ, quyết định bỏ nghề để lo tu hành. Đúng như lời Phật dạy: Tu nhất kiếp ngộ nhất thời  , bọn cướp thành tâm tu niệm nên đến lúc chung mạng đều được Phật rước, độ thành 18 vị La Hán, người gọi là “Thập bát La Hán”.

Tả thì Đại Sĩ Tôn Sư,

Bên hữu lại thờ thập bát Già Lam.

(Hương Sơn Hành Trình).



THẬP ĐIỆN THÁNH MINH  殿

Thập điện: Mười điện ở Địa ngục. Thánh minh: Bậc thánh sáng suốt. Tiếng xưng tụng.

Thập điện Thánh minh tức là Thập điện Diêm Vương dưới Địa ngục. Theo truyền thuyết, có mười vị vua cai quản mười cung điện ở nơi Âm phủ gọi là Thập Điện Diêm Vương 殿 hay Thập Điện Minh Vương 殿 .



Theo kinh sách, mười vị Diêm Vương cai quản mười điện ở Âm phủ được kể như sau:

Nhứt Điện 殿: Tần Quảng Vương .

Nhị Điện 殿: Sở Giang Vương .

Tam Điện 殿: Tống Đế Vương .

Tứ Điện 殿: Ngũ Quan Vương .

Ngũ Điện 殿: Diêm La Vương .

Lục Điện 殿: Biện Thành Vương .

Thất Điện 殿: Thái Sơn Vương .

Bát Điện 殿: Bình Đẳng Vương .

Cửu Điện 殿: Đô Thị Vương .

Thập Điện 殿: Chuyển Luân Vương .

Thốt thôi Thập điện Thánh minh,

Xét tra Dương thế sự tình báo oan.

(Tội Vợ, Vợ Chịu).



THẬP LOẠI CHÚNG SINH 

Thập loại: Mười loài. Chúng sinh: Hán dịch là Tát đỏa, nghĩa là hữu tình, có sinh mạng có sinh tử.

Thập loại chúng sinh là mười loài chúng sinh



Thương thay thập loại chúng sinh,

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

(Thập Loại Chúng Sinh).



THẬP NỮ VIẾT VÔ 

Mười người con gái vẫn xem như chưa có gì.

Ngày xưa người Trung Quốc hay ông bà ta quan niệm sinh con trai để nối dõi Tông đường, nên khi sinh con gái, dù có mười người cũng coi như không có gì cả. Sách có câu: Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô  , , nghĩa là sinh trai dù một đứa cũng gọi là có, sinh gái dù mười đứa cũng xem như không.

Rồi đây muôn dặm đất Hồ,

Biết câu thập nữ viết vô từ rày.

(Nhị Độ Mai).



THẬP NHỊ CHI 

Thập nhị: Mười hai. Chi: Địa chi.

Thập nhị chi còn gọi là thập nhị địa chi, phối hợp với Thiên can dùng để tính năm tháng ngày giờ.

Thập nhị chi gồm có: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Bởi phận làm thập nhị chi,

Trong Kinh ghi dạy thử bì còn gương.

(Truyện Trinh Thử).



THẬP PHƯƠNG 

Thập: Mười. Phương: Phương, hướng.

Thập phương là mười phương, tức là chỉ khắp chốn, mọi nơi.



Của thời tam bảo ăn thường,

Ruộng thời sẵn có thập phương cúng dường.

(Hứa Sử Tân Truyện).



Thêm những sãi giả nương cửa Phật,

Của thập phương châu cấp thê nhi.

(Kinh Sám Hối).



THẬP THẦN 

Thập thần tức là mười vị tôi thần của thời nhà Châu. Đó là Châu Công Đán, Thiệu Công Thích, Thái Công Vọng, Tất Công, Thái Điên, Vinh Công, Hoàng Yêu, Nam Cung Hoát, Táng Nghi Sanh, và Ấp Khương.



Giơ vọt ngựa ấy nhứt danh Châu Hậu,

lấy ai đủ thập thần trị quốc,

mà thầy nho rằng trợ Kiệt nên tin!

(Tần Cung Nữ).



THẬP TRAI 

Thập trai là ăn trai mười ngày trong một tháng âm lịch. Thập trai gồm các ngày: Mồng 1, 8, ngày 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và ngày 30. Nếu tháng thiếu thay vì ba ngày cuối trong tháng là 28, 29, 30, ta ăn ngày 27, 28, và 29.

Theo Phật giáo, ăn chay mười ngày được gọi là “Chuẩn Đề Thập Trai  ”.

Mỗi tháng giữ ngày ăn chay,

Lục trai cho đến những ngày thập trai.

(Hứa Sử Tân Truyện).



THẤT BẢO 七寶

Thất: Bảy. Bảo (Hay bửu): Quý báu.

Thất bảo là bảy món quý báu: Bạc, vàng, Lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu và san hô.



Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn,

Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.

(Truyện Kiều).



THẤT BỘ THÀNH THIÊN 

Tức là bảy bước phải thành bài thơ.

Do truyện Tào Phi, con của Tào Tháo, muốn hại em ruột của mình là Tào Thực, biểu trong bảy bước phải làm một bài thi, không làm xong, sẽ bị xử tử.

Tào Thực liền ngâm rằng: Chử đậu nhiên đậu ki, Đậu tại phủ trung khấp. Bổn thị đồng căn sanh, Tương tiễn hà thái cấp! nghĩa là nấu đậu chụm cây đậu, Hạt đậu trong nồi khóc, Vốn cùng một gốc sanh, Đốt nhau chi quá gấp?!

Tào Phi xem xong bài thi, rất nên cảm động, bèn tha cho em mình là Tào Thực.

Xem: Chử đậu.



Ấy tài thất bộ thành thiên,

Thôi thì này thực nhân tiền còn sao.

(Ngọc Kiều Lê).



THẤT CẦM 

Thất: Bảy. Cầm: Bắt giữ.

Bởi chữ “Thất túng thất cầm  ” là bảy lần bắt giữ, bảy lần tha.

Nói tích Gia Cát Khổng Minh muốn bọn Nam man tâm phục nhà Hán, nên đem binh đánh Mạnh Hoạch bảy lần bắt rồi bảy lần tha.

Xem: Bảy bắt bảy tha.



Toàn sinh cho một trận này,

Thất cầm lúc ấy sẽ hay vội gì.

(Lưu Nữ Tướng).



THẤT CƠ 

Thất: Lầm lẫn. : Tính toán công việc trước.

Thất cơ là lầm lẫn trong khi toan tính công việc khiến cho cho phải thất bại.



Rằng: Ngày hôm nọ giao binh,

Thất cơ Từ đã thu binh trận tiền.

(Truyện Kiều).



THẤT CHÍNH 

Ngôi thất chánh.

Người xưa thường nói: Nhật nguyệt ngũ tinh vị chi thất chính  , , nghĩa là mặt trời mặt trăng, và năm vì sao: Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ gọi là ngôi thất chánh.

Kinh Thư viết: Tại tuyền ky ngọc hoành dĩ tề thất chính  , nghĩa là dùng ngọc tuyền ky để lượng trời đất, để so bằng ngôi thất chánh.



THẤT DIỆU 

Có hai nghĩa:

1. Bảy ngày trong một tuần: Nhật diệu (Chúa nhựt), Nguyệt diệu (Thứ hai), Hoả tinh (Thứ ba), Thuỷ tinh (Thứ tư), Mộc tinh (Thứ năm), Kim tinh (Thứ sáu), Thổ tinh (Thứ bảy).

2. Bảy thứ ánh sáng: Mặt trời, mặt trăng và năm vì sao Hoả, Thuỷ, Mộc, Kim, Thổ.

Thẩm Thuyên Kỳ có câu: Hỷ ngộ thiên văn thất diệu động, Thiếu vi kim dạ cận Tam thai  , , nghĩa là mừng gặp thiên văn khi thất diệu động, sao Thiếu vi đêm nay gần sao Tam thai.

Bóng rợp quần âm quang thảy thảy,

Sáng phau thất diệu tỏ rành rành.

(Hồng Đức Quốc Âm).



THẤT ĐỨC 

Thất: Mất. Đức: Tánh tốt, thường làm điều lành như thi ân bố đức.

Thất đức là nói người làm những điều hung dữ, độc ác làm mất đi những cái đức.



Một câu thất đức thiên niên đọa,

Nhiều nỗi trầm luân bởi ngọn ngành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THẤT GIA 

Như “Gia thất”, có nghĩa là cửa nhà, chữ dùng để nói về vợ chồng, định bề lứa đôi.

Kinh thi có câu: Đào chi yêu yêu, Chước chước kỳ hoa. Chi tử vu quy, Nghi kỳ thất gia  , . , , nghĩa là đào tơ mơn mởn xinh tươi, Hoa hồng đơm đặc dưới trời xuân trong. Hôm nay nàng đã theo chồng, Nên bề gia thất ấm nồng thuận vui (Tạ Quang Phát dịch).

Thiếp nay có chén thuốc tiên,

Khuyên chàng uống lấy kết nguyền thất gia.

(Tây Sương).



Tới đây thì ở lại đây,

Cùng con gái lão sum vầy thất gia.

(Lục Vân Tiên).



THẤT GIÁO 

Thất: Mất. Giáo: Dạy dỗ.

Thất giáo là mất dạy, tức chỉ những người, những đứa trẻ không được dạy dỗ tử tế.



Ngán thay thói mạt bấy chừ,

Nhiều nhà thất giáo, con hư lắm nầy.

(Huấn Nữ Ca)



THẤT NGUYỆT 

Tên một thiên trong Kinh Thi do Châu Công làm ra, thuật lại những nỗi khổ nhọc của các vị tiên vương, trong việc xây dựng cơ nghiệp nhà Châu.



Lũ cày mây lầm tưởng bóng nghê,

thơ thất nguyệt thở than cùng mục thụ.

(Tụng Cảnh Tây Hồ).



THẤT PHU 

Thất: Kẻ bình dân không chức phận gì. Phu: Người đàn ông.

Thất phu là chỉ những người chẳng ra gì, hoặc chỉ người đàn ông tầm thường, không danh phận.



E khi mắc đảng hành hung,

Uổng trang thục nữ sánh cùng thất phu.

(Lục Vân Tiên).



Thà không trót chịu một bề,

Nỡ đem mình ngọc dựa kề thất phu.

(Lục Vân Tiên).

 

THẤT TỊCH 

Đêm mồng bảy tháng bảy.

Tương truyền, Ngưu lang, Chức nữ bị trời đày mỗi người ở một bên sông Ngân Hà, chỉ mỗi năm cho gặp nhau một lần vào đêm thất tịch. Quạ đội đá làm cầu cho hai vợ chồng gặp nhau. Khi gặp, hai vợ chồng ôm nhau khóc, nước mắt ràn rụa xuống hạ giới, người ta gọi là mưa ngâu.

Hai sao soi biết nạn này,

Xin cho thất tịch cùng ngày đoàn viên.

(Tự Tình Khúc).



Chữ đồng lấy đấy làm ghi,

Mượn điều thất tịch mà thề bách niên.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



THẤT TIẾT 

Thất: Mất. Tiết: Khí tiết.

Thất tiết là không giữ vững được khí tiết. Ngoài ra, người đàn bà không giữ được trinh tiết với chồng cũng gọi là thất tiết.



Hễ phận gái một phen thất tiết,

Còn mong chi trinh liệt giữ cho bền.

(Phương Tu Đại Đạo).



THẤT TÌNH 

Thất tình là bảy thứ tình cảm của con người, ai ai cũng có, đó là: Hỷ (Mừng), nộ (Giận), ái (Yêu), ố (Ghét), ai (Thương), lạc (Vui), cụ (Sợ).

Theo Phật, bảy thứ tình cảm này thường hay quấy rối thân tâm, giục con người làm những việc quấy.

Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật,

Mối thất tình quyết dứt cho xong.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



Kỳ này ra khổ thất tình,

Kém nhan sắc trước, khác hình thù xưa.

(Nhị Độ Mai).



Dây oan xe chặt buộc mình,

Nhớp nhơ lục dục thất tình nhiễm thân.

(Kinh Tận Độ).



THẤT TỔ 

Thất tổ là bảy vị Tổ của dòng họ.

Trong sách Lễ Ký có nói rằng: Tổ là đấng có công khai sáng dòng giống buổi đầu tiên. Tông là đấng kế chí, noi theo chí người xưa lập nền tảng cho người đời sau để truyền kế hương lửa.

Theo bản đồ Thất Tổ Miếu thì Thất tổ gồm:

7.- Thất Tổ: Thủy Tổ  Tỷ khảo

6.- Lục Tổ: Viễn Tổ  Tỷ khảo

5.- Ngũ Tổ: Tiên Tổ  Tỷ khảo

4.- Tứ Tổ: Cao Tổ  Tỷ khảo

3.- Tam Tổ: Tằng Tổ  Tỷ khảo

2.- Nhị Tổ: Hiển Tổ  Tỷ khảo

1.- Nhứt Tổ: Hiển Tỷ khảo  (Cha mẹ)

Nguyện cùng Thất Tổ xin thương,

Cho bền gan tấc noi đường thảo ngay.

(Kinh Thế Đạo).



THẤT THỐ 

Thất: Mất. Thố: Để một vật.

Thất thố là để lạc mất một vật gì.

Nghĩa bóng làm điều sai lầm do trong lòng hoảng hốt hoặc vì cấp bách, như sơ suất, sai phạm, thiếu giữ gìn ý tứ trong hành vi hoặc nói năng: Ăn nói thất thố.

Nghe giọng tỳ khêu mấy đoạn buồn,

Chạnh cơn thất thố với ly hương.

(Đạo Sử).



THẤT TRINH 

Thất: mất. Trinh: Trinh tiết của người phụ nữ.

Thất trinh là con gái bị mất trinh tiết.



Hay là mang chữ thất trinh,

Để người dắt tới tụng đình thêm nhơ.

(Huấn Nữ Ca).



THẤT XUẤT 

Ngày xưa, người đàn bà có bảy điều lỗi khiến người chồng căn cứ vào đó mà ly dị: 1. Không con nối dõi. 2. Dâm dục. 3. Biếng nhác. 4. Không thờ cha mẹ chồng. 5. Ghen tương. 6. Trộm cắp. 7. Có ác tật.



Tam tòng trước nàng đã lỗi,

Thất xuất rày anh mới phân.

(Hồng Đức Quốc Âm).



THÂU HƯƠNG 

Thâu: Ăn cắp, ăn trộm. Hương: Mùi thơm.

Thâu hương là ăn trộm mùi thơm, ý muốn nói sự dan díu thầm vụng, lén lút.

Theo Thế Thuyết Tân Ngữ, dưới triều nhà Tần, quan đại thần Giả Sung có một viên thư lại là Hàn Thọ rất đẹp trai, nên con gái của Giả Sung phải lòng và tư thông với Hàn Thọ. Vua Tần có ban cho Giả Sung một loại hương liệu rất thơm và quý, bị nàng con gái đánh cắp đem cho Hàn Thọ. Khi lộ chuyện ra, Giả Sung buộc phải gả con gái cho Hàn Thọ.

Xem: Thiết ngọc.



Dám nào thiết ngọc thâu hương,

Gìn trong danh tiết lánh đường phiền hoa.

(Truyện Trinh Thử).



THẸN BÓNG

Thẹn với hình bóng.

Do câu trong Tống sử có chép: Độc hành bất quý ảnh, độc tẩm bất quý khâm  , , nghĩa là đi một mình không thẹn với bóng, ngủ một mình không thẹn với chăn, ý muốn nói dầu khi một mình cũng không làm bậy, nghĩ xằng, chẳng làm việc gì xấu xa đê tiện.

Con khá nhớ hồng nhan phận mỏng,

Đừng làm cho thẹn bóng trăng xuân.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THẸN CÙNG PHỦ NGƯỠNG

Bởi câu trong sách Mạnh Tử: Ngưỡng bất quý ư thiên, phủ bất tạc ư nhân  , , nghĩa là ngửa lên chẳng thẹn với trời, cúi xuống không hổ cùng người. Ý nói không hổ thẹn với lương tâm.



Lòng này ai biết Hán hay Hàn,

phải biện bạch kẻo thẹn cùng phủ ngưỡng.

(Trương Lưu Hầu Phú).



THÉT ROI CẦU VỊ

Bởi chữ “Minh tiên Vị kiều  ” tức là tiếng roi đánh ngựa để phóng ra cầu sông Vị.

Sông Vị là nơi hiểm yếu để chống rợ Đột Khuyết, thuộc phía tây bắc tỉnh Thiểm Tây.

Lý Bạch có câu: Tuấn mã tự phong phiêu, minh tiên xuất Vị kiều 駿 , , nghĩa là Tuấn mã phóng như gió bay, vút roi vào ngựa để ra nơi cầu sông Vị.



Giã nhà đeo bức chiến bào,

Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



THÊ LƯƠNG 

Thê: Lạnh lẽo. Lương: Mát mẽ.

Thê lương chỉ cái khung cảnh vắng vẻ, lạnh lẽo.



Lều nho nhỏ, kéo tấm tranh lướt thướt,

ngày thê lương hạt nặng giọt mưa sa.

(Tài Tử Đa Cùng Phú).



THÊ NOA 

Thê: Vợ. Noa: Con.

Thê noa là chỉ vợ và con. Người xua thường quan niệm vợ con là sự ràng buộc nên thường nói: Thê triền tử phược  , nghĩa là vợ ràng con buộc.



Ðường giong ruổi lưng đeo cung tiễn,

Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



THÊ PHONG 

Thê: Vợ. Phong: Phong tước.

Thê phong ý nói trong chế độ triều đình ngày xưa, vợ các vị quan to đều được phong tước.

Xem: Phu nhân.

Ơn trên: tử ấm thê phong,

Phần vinh thiếp cũng đượm chung hương trời.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



THÊ THẰNG TỬ PHƯỢC 

Thê thằng: Vợ trói. Tử phược: Con buộc.

Thê thằng tử phược là vợ trói con buộc, ý nói người có vợ con rồi, vì bổn phận nên bị ràng buộc, không được tự do.

Đồng nghĩa với “Thê triền tử phược”.

Xem: Thê triền.



Thê thằng tử phược tiếng đời rằng,

Chồng bậu cũng vì chịu khó khăn.

(Đạo Sử).



THÊ TRIỀN 

Thê: Vợ. Triền: Vấn vít, trói buộc.

Thê triền có nghĩa là vợ vấn vít bên chồng, làm cho người chồng mất tự do, gần như bị trói buộc. Do câu: “Thê triền tử phược ”, tức là vợ con trói buộc.

Trong “Ngư Tiều Vấn Đáp”, Nguyễn Đình Chiểu đã mượn nghĩa “Vợ trói buộc” để đặt tên một nhân vật:

Có tên rằng Mộng Thê Triền,

Tuổi vừa bốn chục, nhân duyên năm lần.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



THÊ VINH TỬ ẤM 

Thê vinh: Vợ được vinh hiển. Tử ấm: Con được tập ấm của cha, tức là cha làm quan con được hưởng tập ấm.

Thê vinh tử ấm ý nói chồng lập được danh phận thì vợ, con được rạng rỡ và được hưởng tập ấm.



Chỉnh cầu con gắng chí cho bền,

Lập danh phận cho thê vinh tử ấm.

(Phương Tu Đại Đạo).



THẾ CÔNG 

Thế: Vị trí có lợi thế. Công: Đánh.

Thế công tức là đang giữ vị thế để đánh hay vị thế có lợi để đánh.



Nghe lời nàng nói mặn mà,

Thế công Từ mới trở ra thế hàng.

(Truyện Kiều).



THẾ CỤC 

Thế: Đời. Cục: Cuộc.

Thế cục là cuộc đời, tức là cuộc sống ở trên cõi đời này, nói cuộc sống có ý nghĩa.



Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp,

Xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân.

(Thơ Nguyễn Công Trứ).



Kìa thế cục như in giấc mộng,

Máy huyền vi mở đóng khôn lường.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



THẾ DÂN 

Thế Dân là tên của vua Đường Thái Tông, cha là Lý Thế Uyên, tức Cao Tổ nhà Đường. Cuối đời Tuỳ, thiên hạ loạn lạc, Lý Uyên chiêu tập binh mã nổi lên dẹp loạn và lập nên nhà Đường rồi phong cho Thế Dân làm Tần Vương.

Thái tử Kiến Thành mưu với em là Tiểu Lạc Vương Nguyên Cát hại Thế Dân, nhưng âm mưu bại lộ bị Thế Dân bắt giết rồi cướp lấy vợ. Thế Dân được lập làm Thái tử, sau lên nối ngôi vua Cao Tổ, lấy hiệu là Thái Tông. Thời ấy, thiên hạ được thái bình, đất nước được thịnh trị.

Xem: Tiểu Lạc.



Hay là học thói Đường cung,

Vợ người Tiểu Lạc sánh cùng Thế Dân.

(Lục Vân Tiên).



THẾ ĐẠO ĐỒI BA 

Thế đạo: Đạo đức ở đời. Đồi ba: Đổ sụp như cơn sóng ập xuống.

Thế đạo đồi ba là đạo đức ở đời suy bại, hư hỏng như thể cơn sóng đang dâng cao bỗng đổ ập xuống, không ngăn cản, cứu vãn được.



Thương câu thế đạo đồi ba,

Ngày nay chưa biết mai ra lẽ nào!

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



THẾ ĐỒ 

Thế: Đời. Đồ: Con đường.

Thế đồ là đường đời, tức con đường mà con người trải qua từ lúc sinh ra cho đến lúc chết.



Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ,

Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



THẾ GIỚI NHƯ NHÀ

Nghĩa là coi thế giới như nhà của mình, tức xem nhân loại như là anh em một nhà, dù khác quốc gia dân tộc, hay ngôn ngữ màu da, vì tất cả nhân loại đều là con cái của Đấng Thượng Đế. Đây là quan niệm của thuyết Đại Đồng của Nho giáo. Xem: Đại đồng.



Biết coi thế giới như nhà,

Sống nên Chí Thánh, thác là Thần Tiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THẾ NGHỊ 

Thế: Đời. Nghị: Mối tình thâm giao.

Thế nghị là tình nghĩa thâm giao từ đời trước.



Được rày công tử biết cùng,

Đã trong thế nghị lại trong lân tình.

(Hoa Tiên Truyện).



THẾ NGHIỆP 

Thế: Đời. Nghiệp: Chức nghiệp, sự nghiệp.

Thế nghiệp sự nghiệp đời trước truyền lại, tức là sự nghiệp của ông cha để lại.



Nền thế nghiệp đã nhờ gia ấm,

Miền hoạn đồ lại lắm thiên ân.

(Tự Tình Khúc).



THẾ PHÁT 

Thế: Cắt. Phát: Tóc.

Thế phát là cắt tóc. Thế phát thường dùng cho những người tu hành, có nghĩa là cạo đầu theo Phật, gọi là thế phát quy y.



Mới kêu Văn Quới vào kề,

Cầm dao thế phát nấy ghi dạy truyền.

(Hứa Sử Tân Truyện).



THẾ TẬP 

Thế: Đời. Tập: Chức tước của ông cha, con cháu được thừa hưởng.

Con cháu đời đời được tập tước, tức là nhờ công nghiệp của ông cha mà con cháu ngày nay được thừa hưởng, gọi là thế tập.



Lại cho thế tập về sau,

Rành rành khoán núi, làu làu thư sông.

(Hoa Tiên Truyện).



THẾ TÔN 

Thế: Đời. Tôn: Tôn kính lên bậc lớn nhất.

Thế tôn, trái với thiên tôn, là do đời tôn lên, tức là bởi toàn vạn linh tôn sùng lên hàng Phật vị.

Tiếng tôn xưng của Đức Phật Thích Ca là Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Thám hoa ngày ở từ môn,

Trai thành nên đức Thế Tôn độ người.

(Truyện Phan Trần).



THẾ TỤC 

Thế: Đời. Tục: Thói.

Thế tục là thói thường ở đời. Ngoài ra thế tục còn dùng để chỉ cõi đời.



Dặm khổ qua rồi ngôi vị sẵn,

Hay chi thế tục chước cầu vinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



Trước chẳng giữ ngôi, ngôi mới mất,

Cân phân thế tục phẩm chi sờn.

(Đạo Sử).



Càng ngó trái lại miền thế tục,

Lụy nhỏ dầm đòi khúc lòng đau.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THẾ THÁI NHÂN TÌNH 

Thế thái: Tình trạng trong thế gian. Nhân tình: Tình người.

Thế thái nhân tình tức là trạng thái về tình người.

Triệu Biện có câu: Thế thái nhân tình lãnh như thuỷ  , nghĩa là nhân tình thế thái lạnh như nước.

Thế thái nhân tình gớm ghiếc thay,

Nhạt nồng mặn lạt túi vơi đầy.

(Thơ Nguyễn Công Trứ).



THẾ VỊ 

Thế: Đời, cuộc đời. Vị: Mùi vị.

Thế vị là mùi đời, tức những mùi vị như nồng, nhạt, cay đắng, ngọt bùi trên đời mà ta được hưởng.



Mùi thế vị khi nồng lúc nhạt,

Chén yên hà kẻ tỉnh người say.

(Thanh Hoá Quan Phong).



THỀ CHẲNG ĐỘI TRỜI

Bởi câu “Thệ bất cộng đái thiên  ” tức là thề không đội trời chung.

Hai bên vì hận thù nhau ghê gớm, quyết không sống chung dưới bầu trời.

Nghĩa bóng: Chỉ sự thù hận.



Thoắt thôi từ tạ mấy người,

Tấc lòng thề chẳng đội trời với ai.

(Nhị Độ Mai).



THỂ NỮ 

Thể: Lựa chọn. Nữ: Người con gái.

Vào đời nhà Hán, những người con gái trong cung được gọi là thể nữ, tức là những người đẹp được lựa trong dân gian. Thời bấy giờ có ba bậc: Mỹ nhân, cung nhân và thể nữ.



Cung nga thể nữ theo sau,

Rằng: Vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy.

(Truyện Kiều).



THỆ HẢI MINH SƠN 

Thệ hải: Thề với biển. Minh sơn: Nguyền cùng núi non. Thệ hải minh sơn là thề non hẹn biển, tức là chỉ núi, chỉ biển mà thề nguyền với nhau.

Ngày xưa, mỗi khi trai gái thề nguyền về nhân duyên, thường bày bàn hương án giữa trời, chỉ sông núi mà thề hẹn với nhau.

Còn có thể viết: Thệ hải sơn minh.

1.- Thệ hải minh sơn:



Mấy lời thệ hải minh sơn,

Mang ơn trước phải đền ơn cho rồi.

(Lục Vân Tiên).



Để lời thệ hải minh sơn,

Làm con trước phải đền ơn sinh thành.

(Truyện Kiều).

2.- Thệ hải sơn minh:

Vì chàng thiếp kết bố kinh,

Giữ câu thệ hải sơn minh với nàng.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THỆ SƯ 

Thệ: Tập họp binh lính lại răn bảo và ra mệnh lệnh. : Quân lính.

Lúc sắp ra trận, tập họp binh sĩ lại để chỉ thị răn bảo, gọi là thệ sư. Nói một cách khác, đó là lễ tuyên cáo và hiểu dụ quân sĩ trước lúc ra quân.



Thệ sư kể hết mọi lời,

Lòng lòng cũng giận, người người chấp uy.

(Truyện Kiều).



THỆ THUỶ 

Thệ thuỷ là nước chảy, chữ được mượn trong sách Luận Ngữ của Khổng Tử.

Đức Khổng Tử đứng nhìn nước chảy mà than rằng: Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ!  , !, nghĩa là nước chảy như vậy chẳng dứt cả ngày lẫn đêm. Ý muốn nói sự hoá sinh của trời đất cứ tiếp tục nhau không bao giờ dứt, như dòng nước chảy vậy.

Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ,

Quán thu phong đứng rũ tà huy.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



THỀM PHONG

Nghĩa từ chữ “Phong đình  ”, là sân trồng cây phong, tức cây bàng, một loại cây thường được trồng ở sân chầu của vua.

Thềm phong chỉ sân chầu của vua.

Xem: Phong đình.



Thềm phong khúm núm tâu qua:

Hiếm hoi một gái tuần đà thêm hai.

(Hoa Tiên Truyện).



THỀM QUẾ

Tương truyền, trên cung trăng có trồng cây quế, nên mặt trăng còn được gọi là “Thềm quế”, “Cung quế”, “Điện quế” hay “Bóng quế”.



Vả trong thềm quế cung trăng,

Chủ trương đành đã chị Hằng ở trong.

(Truyện Kiều).



THÊU DỆT CHUYỆN NGƯỜI

Ăn không ngồi rồi đi nói chuyện người ta. Đã vậy mà còn thêu dệt câu chuyện cho hấp dẫn, nghĩa là thêm mắm dặm muối, không nghĩ rằng chuyện đó có thể làm hại người.



Thêu dệt hay lo nói chuyện người,

Nhiều phen hại kẻ tưởng là chơi.

(Đạo Sử).



THI ĐỒNG 

Thi: Thơ ca. Đồng: Cái ống bằng đồng, dùng để đựng những cuộn giấy.

Thi đồng là cái ống dùng để chứa các bái văn thi.



Trên yên, bút giá thi đồng,

Đạm thanh một bức tranh tùng treo trên.

(Truyện Kiều).



THI KINH 

Tức Kinh Thi, một bộ sách gồm những câu ca dao rất cổ của Trung Quốc. Ngày xưa triều đình đặt ra chức quan thu thập ca dao, đồng dao để xem xét phong tục tập quán của nhân dân. Hán Thư chép: Cổ hữu thái thi chi quan, vương giả sở dĩ quan phong tục, tri đắc thất  , , , nghĩa là xưa có chức quan phụ trách việc đi nhặt ca dao để bậc vương giả lấy đó mà xem xét phong tục, biết được sự đắc thất về chính trị.

Kinh Thi do Khổng Tử san định, gồm 305 thiên, phân làm bốn thể loại: Quốc phong, Đại Nhã, Tiểu Nhã, Tụng.

Đến khi đọc sách Thi Kinh,

"Lục Nga" thơ ấy động tình xiết bao.

(Dương Từ Hà Mậu).



THI LÁ

Đề thi trên chiếc lá.

Do điển tích: Đời Đường có cung nữ họ Hàn, đề thi vào một chiếc lá, rồi thả theo dòng nước trong cung cho trôi ra. Vu Hựu nhặt được, hoạ lại bài thơ viết vào chiếc lá khác, rồi thả cho trôi trở vào, cung nữ họ Hàn cũng nhặt được.

Về sau vua Hy Tông thả hơn ba ngàn cung nữ, trong đó có nàng cung nữ họ Hàn, khi về nhà nàng tình cờ kết duyên với Vu Hựu. Trong đêm thành hôn hai người trao lá cho nhau xem mới biết nhơn duyên do chiếc lá kia làm mối. Người cung nữ họ Hàn có câu thơ như sau: Phương tri hồng diệp thị lương môi  , nghĩa là mới biết lá thắm là người mối tốt.

Xem: Hồng diệp.

Đừng đề thi lá thơ chim,

Cầu hôn để phụng đến tìm cung loan.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THI TIÊN 

Thi: Thơ. Tiên: Giấy hoa, còn gọi là hoa tiên.

Thi tiên tức là mảnh giấy có vẽ hoa, thường dùng để viết thơ hay là thi văn.



Tạ triều một thủ thi tiên,

Đem nhau xe hạc về miền hương quan.

(Truyện Phan Trần).



THI THƯ 

Thi là Kinh Thi, một bộ sách gồm những câu ca dao rất cổ của Trung Quốc. Kinh Thi do Khổng Tử san định, gồm 305 thiên, phân làm bốn thể loại: Quốc phong, Đại Nhã, Tiểu Nhã, Tụng. Xem: Thi kinh.

Kinh Thư là bộ sách do Không Tử san định, gồm 100 thiên, chép lại các phép tắc, lời răn dạy, mệnh lệnh của các vua từ Nghiêu Thuấn đến Đông Châu.

Nội dung Kinh Thư gồm: Điển: Ghi chép chế độ kiến thiết về đời Đường và đời Ngu. : Ghi chép lời các quan đời Ngu điều trần mọi việc. Huấn: Lời vua tôi khuyên nhau điều hay lẽ phải. Cáo: Lời răn bảo người dưới sắp sửa nhận chức ra làm quan. Thệ: Lời thề, cũng như bài hịch trước khi dụng binh. Mệnh: Sắc mệnh của người trên ban bố khắp thiên hạ.



Thi Thư Dịch Lễ đều tinh,

Xuân Thu nghĩa cả cho minh nghiệp nhà.

(Gia Huấn Ca).



THI TRUNG HỮU HOẠ 

Trong thơ có hoạ, ý chỉ thơ hay diễn tả như là một bức hoạ hiện ra trước mắt.

Người ta tán tụng Vương Duy có câu: Vị Vương Duy chi thi, thi trung hữu hoạ; quan Vương Duy chi hoạ, hoạ trung hữu thi  , ; , , nghĩa là thưởng thức thơ Vương Duy thì trong thơ có hoạ, nhìn ngắm bức hoạ của Vương Duy thì trong hoạ có thơ.

THÍ BẠC

Thí 
: Cho, như bố thí.

Thí bạc là bố thí tiền bạc, tức là đem bạc tiền để cứu giúp cho người tàn tật, nghèo khó, khổ sở.



Thương đồng loại cũng hơn thí bạc,

Thấy trên đường miểng bát, miểng chai,

(Kinh Sám Hối).



THÍ PHỤ TỰ LẬP 

Giết cha tự lên ngôi.

Tuỳ Sử ghi: Con của Văn Đế là Dương Quảng, thừa lúc cha (Văn Đế) nằm bịnh, truyền lịnh những người hầu cận vua Văn Đế đi cung khác. Sau đó vua băng! Trong ngoài đều bàn tán rằng: Thí phụ tự lập, Tuỳ Dương Quảng chi thiên tính hà tồn  , , nghĩa là giết cha để lập mình, thiên tính của vua Dương Quảng nhà Tuỳ còn đâu.

Xem: Tuỳ Dượng Đế.



THÍ TIỀN THÍ BẠC

Thí tiền thí bạc là bố thí bằng cách đem tiền bạc ra giúp đỡ người nghèo đói, thiếu thốn, đau yếu.

Bố thí tiền bạc còn gọi là tài thí, một trong ba cách hiến tặng: Tài thí  pháp thí 法施 và vô úy thí  . Thí tiền thí bạc không những chỉ riêng có lợi cho người nhận mà lẫn cả người cho nữa. Như vậy hành bố thí vừa cứu giúp cho người mà vừa độ cho chính mình: Làm cho tâm được an vui, làm mất đi tính tham lam, ích kỷ, phá chấp sâu nặng của con người mình và làm phát triển lòng từ bi hỷ xả của Phật.



Thí tiền, thí bạc, chẩn bần,

Người đau thí thuốc, Thánh, Thần phước ban.

(Kinh Sám Hối).



THỈ THẠCH 

Thỉ: Cây tên. Thạch: Đá.

Ngày xưa người ta dùng tên và đá để giữ thành trì. Khi có giặc công thành, đứng trên bắn tên hoặc ném đá xuống để thủ thành.

Thỉ thạch chỉ sự chịu đựng lằng tên mũi đạn.

Há rằng ngại một phen thỉ thạch,

Giải trùng vi mà tìm tới quân vương.

(Văn Tế Võ Tánh).



THỊ PHI 

Thị: Đúng, phải. Phi: Trái, quấy.

Thị phi là những điều phải trái, hơn thiệt.



Chồng tao nào phải như ai,

Điều này hẳn miệng những người thị phi!

(Truyện Kiều).



Dấn thân vào chốn an nhàn,

Thoát vòng danh lợi, lánh đhttps://hocday.com/thin-vn-quch-vn-ha-trong-thi-vn-nm-2011-li-ta/30102_html_6f264e0b.pngàng thị phi.

(Lục Vân Tiên).



Phế hưng đổi mấy cuộc cờ,

Thị phi chép để đến giờ làm gương.

(Quốc Sử Diễn Ca).

Thị phi, mặc thế khen chê,

Tương rau cũng đã an bề đi tu.

(Dương Từ Hà Mậu).



Chớ buông tiếng thị phi khinh dể,

Rán làm lành phước để cháu con.

(Kinh Sám Hối).



Dời đổi thói đời lắm thị phi,

Trăm năm chung đỉnh có ra gì!

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THỊ TÀO 

Thị tào là bảo cho mọi người đều biết, hay răn bảo cho biết. Nghĩa rộng “Thị tào” dùng để chỉ nơi chém người, cũng như nói "pháp trường".



Truyền đem chính pháp thị tào,

Lư công xin để buộc vào có tang.

(Nhị Độ Mai).



THÍCH CA 

Tên tắt của Đức Thích Ca Mâu Ni, dịch âm tiếng Çakya Mouni của Phạn ngữ.

Thích Ca Mâu Ni là một vị thái tử ở nước Ca ty la (Kapilavastu) Trung Ấn Độ, phụ hoàng tên là Tịnh Phạn, mẫu hoàng tên là Ma Da. Ngài tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha). Còn chữ Thích Ca (Sakya) là tên một chủng tộc, dịch là Năng nhơn. Mâu Ni là tiếng khen ngợi dịch là Tịch Mặc.

Lúc nhỏ Ngài có trí sáng suốt và có tài năng phi thường. Lớn lên Ngài thấy chúng sanh khổ não, thế gian vô thường, nên Ngài quyết chí tu hành, tìm đường giải thoát cho chính bản thân mình (tự độ), và cho hầu hết chúng sanh (tha độ) lên bờ giác ngộ.

Ngài thành Đạo dưới gốc cây bồ đề và trải 45 năm truyền pháp độ sanh, Ngài nhập Niết bàn lúc 80 tuổi.

Lòng từ bi mộ đạo Thích Ca;

Nguyện Phật pháp vui bề trai gái.

(Sãi Vãi).



Cảm thương Tiêu Diễn công tu,

Bỏ mình ba thứ theo cầu Thích Ca.

(Ngư Tiều Vấn Đáp)



Chửa dễ ai là bụt Thích Ca,

Mọi niềm nhân ngã nhẫn thì qua.

(Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

THIỀM CUNG 

Thiềm: Con thiềm thừ, chỉ mặt trăng. Cung: Cung điện, chỉ cung trăng.

Tương truyền Hằng Nga sau khi trộm thuốc tiên của chồng là Hậu Nghệ, uống vào thành tiên lên ở cung trăng và hoá thành con thiềm thừ. Nên mặt trăng được gọi là “Thiềm cung” hay “Cung thiềm”.

Xem: Cung thiềm.

Thiềm cung bóng đã tà tà,

Khuyên rằng mau trở lại nhà với con.

(Truyện Trinh Thử).



Thiềm cung từ vắng ả Hằng,

Tìm kim đáy nước mò trăng giữa đầm.

(Quan Âm Thị Kính).



Cung Ðẩu vít xa gươm xích quỉ,

Thiềm cung mở rộng cửa hà ngân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THIỀM LUÂN 

Thiềm: Con thiềm thừ, tức là con cóc, chỉ mặt trăng. Luân: Bánh xe.

Thiềm luân tức là mặt trăng, hình giống bánh xe.



Kim ô mặt trời sáng hồng,

Thiềm luân nguyệt sáng trên không làu làu.

(Chỉ Nam Ngọc Âm).



THIỀM THỪ 

Con thiềm thừ là một loại với cóc, lưng đen, sống ba ngàn tuổi, đầu có sừng thịt, dưới cổ có tám chữ son. Ông Hậu Nghệ xin thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu. Vợ ông Hậu Nghệ là hằng nga trộm thuốc đó uống, rồi bay lên cung trăng, hoá thành con thiềm thừ.

Sách Ấu Học viết: Nguyệt lý thiềm thừ thị nguyệt phách chi tinh quang  , , nghĩa là con thiềm thừ trong mặt trăng là ánh sáng đẹp của nguyệt phách.

Xem: Thiềm cung.



THIÊN ÁI 

Thiên: Nghiêng về một bên, không công bình. Ái: Yêu thương.

Thiên ái tức là lòng yêu thương không công bằng, chỉ yêu riêng tư một người nào.



Nhẽ đâu chặt đủa chừa rèm,

Một bề thiên ái mà đem bụng xằng.

(Huấn Nữ Ca).



THIÊN ÂN 

Thiên: Trời. Ân: Ơn.

Thiên ân tức là ơn của Trời, còn dùng để chỉ ơn của nhà vua.

1.- Chỉ ơn Trời:

Thiên ân thử nhựt tứ thành hôn,

Mãn thế bất ly thể dữ hồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Chỉ ơn vua:

Nền thế nghiệp đã nhờ gia ấm,

Miền hoạn đồ lại lắm thiên ân.

(Tự Tình Khúc).



THIÊN BẢO

Vua đãi yến cho bề tôi, bề tôi chịu ơn vua ca khúc thiên bảo để cầu chúc trời bảo hộ để vua được vững vàng yên ổn, đó là một chương trong Kinh Thi, thiên Nhã phong, có chín chữ “Như ” chúc tụng nhà vua: 1.- Như sơn. 2.- Như phụ. 3.- Như cương. 4.- Như lăng. 5.- Như xuyên chi phương chí, dĩ mạc bất tăng. 6.- Như nguyệt chi hằng. 7.- Như nhật chi thăng. 8.- Như nam sơn chi thọ, bất khiên bất băng. 9.- Như tùng bách chi mậu, vô bất nhĩ hoặc thăng. Nghĩa là vững vàng như núi, như đồi, như đống, như gò. Như sông nước mênh mông, cây cỏ được tươi tốt, mà nẩy nở tăng lên mãi. Như mặt trăng mới mọc, như mặt trời mới lên, như tuổi thọ của núi Nam sơn, không sụt lở, như vẻ tươi xanh của cây tùng cây bách, không đâu là không đầy đặn lâu dài. Người ta gọi "Thiên bảo cửu như" là thế.



Vóc đề chữ, gấm thêu bài,

Vịnh ca Thiên bảo, chúc lời Nghiêu hoa.

(Nhị Độ Mai).



Non Nam lần chúc tuổi trời,

Dâng lời Thiên bảo, bày lời hoa phong.

(Ai Tư Vãn).



THIÊN CẢNH 

Thiên: Trời. Cảnh: Cõi giới.

Thiên cảnh là cõi Trời. Theo Cao Đài tức cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.



Hồn Trời hóa trở về Thiên cảnh,

Xác Đất sanh đến lịnh phục hồi,

(Kinh Tận Độ).



Nam Mô Địa Tạng thi ân,

Đưa đường Thiên cảnh, lánh gần Phong đô.

(Kinh Tận Độ).



Dầu đoạt vị ở an Thiên cảnh,

Dầu tái sanh mở cảnh siêu phàm.

(Kinh Thế Đạo).



THIÊN CAO THÍNH TY 

Thiên cao: Trời cao, Thính ty: Nghe thấp.

Trời ở trên cao nhưng những chuyện nơi thế gian trời đều nghe hết nên gọi là nghe thấp. Thiên cao thính ty có nghĩa là những việc hay dở ở cõi thế, trời đều biết hết cả.



Thiên cao mà lại thính ty,

Trên đầu chẳng nghĩ còn thì có ai.

(Truyện Trinh Thử).



THIÊN CUNG 

Thiên: Trời. Cung: Cung điện.

Thiên cung là cung điện trên trời, chỉ cõi trời.



Chốn Thiên cung ai kén rể bao giờ?

Chi những sự vẩn vơ mà giấy má!

(Thơ Tản Đà).



Thiên cung xuất Vạn linh tùng pháp,

Hiệp Âm Dương hữu hạp biến sanh.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).



THIÊN CƠ 

Thiên: Trời. : Máy móc.

Trời như là một guồng máy to lớn, sắp đặt đủ mọi việc, nhưng lại là guồng máy bí mật, khiến con người không biết được những việc gì sẽ xảy ra, nên thường gọi là “Thiên cơ” (Máy Trời).



Thiên Cơ đã lộ lúc khai Trời,

Kêu khách phàm trần đã hụt hơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



Hộ giá Chí Tôn trước đến giờ,

Pháp luân thường chuyển máy thiên cơ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



Lục thông trần thế chẳng ai hay,

Cái máy Thiên Cơ đã sắp bày.

(Đạo Sử).



THIÊN CUNG 

Thiên: Trời. Cung: Cung điện.

Thiên cung là cung điện trên trời, chỉ cõi trời, hay cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.



Chốn Thiên cung ai kén rể bao giờ?

Chi những sự vẩn vơ mà giấy má!

(Thơ Tản Đà).



Rảnh mình đâu đặng thảnh thơi,

Thiên cung lỡ lối chơi vơi cõi trần.

(Kinh Tận Độ).



Thiên cung xuất Vạn linh tùng pháp,

Hiệp Âm Dương hữu hạp biến sanh.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).



Thiên cung: Tinh Tú, Thánh, Tiên,

Địa kỳ: Thần Tướng đàn tiền giáng lâm.

(Xưng Tụng Công Đức).



THIÊN ĐẠO 

Thiên Đạo là Đạo Trời có nhiều nghĩa:

A.- Thiên Đạo là đạo lý tự nhiên của Trời đất.

Nàng rằng Thiên đạo nhiệm thay,

Kiều Tùng xưa cũng thế này chứ sao?

(Bích Câu Kỳ Ngộ).



Ngày đêm đưa rước chực chầu,

Công bình Thiên Đạo phép mầu chí linh.

(Kinh Sám Hối).

B.- Thiên Đạo là nói chung các mối đạo giải thoát, tức là Đạo đưa linh hồn con người thoát khỏi luân hồi sinh tử để về Tiên cảnh hay vào Cực Lạc thế giới.

Thiên Đạo trong trường hợp này, gọi là Tiên Đạo, trái với Nhơn Đạo, nhưng lấy Nhơn Đạo làm căn bản, bởi vì tròn được Nhơn Đạo thì mới đạt được Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo. Vì vậy, Nho giáo có câu: Dục tu Tiên Đạo, tiên tu Nhơn Đạo. Nhơn Đạo bất tu, Tiên Đạo viễn hỹ  , . , , nghĩa là muốn tu đạo Tiên, trước tu nhơn đạo, nhơn đạo không tu, đạo Tiên xa lắm vậy.



Rằng ở đời thì nhơn đạo trọn,

Trọn rồi Thiên Đạo mới hoàn toàn

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THIÊN ĐỊA CHÍ CÔNG 

Thiên địa: Trời đất. Chí công: Rất công bình.

Thiên địa chí công nghĩa là trời đất rất công bình.



Mới hay thiên địa chí công,

Bây giờ lại tỏ hình dung rõ ràng.

(Nữ Tú Tài).



THIÊN ĐƯỜNG 

Hay “Thiên Đàng”.

Các tôn giáo đều đưa ra một thế giới vĩnh hằng và an lạc, như Phật giáo là Cực lạc, Thiên Chúa giáo là Thiên Đường.

Thiên Đường là nơi trở về của những người tốt, thiện lành để hưởng mọi sự yên vui, còn Địa Ngục là chỗ đoạ của những kẻ ác đức, bất lương để chịu đủ mọi cực hình.

1.- Thiên đường:

Nói rằng: Trời Phật sách in,

Tội về Địa Ngục thác lên Thiên Đường.

(Dương Từ Hà Mậu).



Lành thời lên chốn Thiên Đường,

Tiêu diêu khoái lạc nhơn gian khó bì.

(Hứa Sử Tân Truyện).

2.- Thiên đàng:

Lãnh lời nàng mới theo sang,

Biết đâu địa ngục Thiên Đàng là đâu.

(Truyện Kiều).



Thiên Đàng giữ cửa góc Trời Tây,

Truyền Ðạo cho dân biết mặt Thầy.

(Đạo Sử).



THIÊN HƯƠNG 

Thiên: Trời. Hương: Thơm tho.

Thiên hương là cành hoa thơm của trời.

Do câu trong Tình Sử: Thiên hương nhất chi  , tức là một cành hương thơm của trời. Ý chỉ người đàn bà đẹp đẽ.

Xem: Thiên hương quốc sắc.



Phận hồng nhan có mỏng manh,

Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.

(Truyện Kiều).



Thu về năm mãn chẳng lo xuân,

Cái phấn thiên hương vẫn có chừng.

(Đạo Sử).



THIÊN HƯƠNG QUỐC SẮC 

Thiên hương quốc sắc là người con gái đẹp được tuyển lựa trong một nước, có hương thơm trời ban cho, tức người có hương sắc nhứt trong nước.

Chiến Quốc Sách có ghi: Lệ Cơ là nàng phi của vua Lệ Vương được chọn là người đàn bà quốc sắc trong thời bấy giờ vậy.

Nghĩa bóng: Chỉ người con gái đẹp nhứt.



Hiếm chi trong chốn non sông,

Thiên hương quốc sắc như bông hoa đèn.

(Truyện Trinh Thử).



THIÊN KIÊU 

Như chữ “Kiêu tử  ”, do trong Hán Thư chép về việc rợ Hung Nô gửi quốc thư cho vua Hán có câu: Nam hữu đại Hán, bắc hữu cường Hồ. Hồ giả thiên chi kiêu tử dã  , . , nghĩa là phương nam có nhà đại Hán, phương bắc có cường Hồ. Hồ ấy là đứa con kiêu ngạo của trời vậy.

Vì vậy, “Thiên kiêu” hay “Kiêu tử” là chữ được dùng để chỉ rợ Hồ.

Xem: “Giặc trời”.



Dục bả liên thành hiến minh thánh,

Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiêu.

(Đặng Trần Côn).



THIÊN LAO 

Thiên lao tức là nhà ngục do triều đình xây dựng dành để giam người có tội.



Than rằng thung cỗi huyên già,

Thiên lao biết có bao giờ biện oan.

(Nhị Độ Mai).



THIÊN LƯƠNG 

Thiên lương là cái phần tốt đẹp mà Trời ban cho con người để hướng dẫn con người hành động cho hợp thiên lý.

Trời sinh ra con người bao giờ tánh cũng tốt, nên Thiên lương là bản tính tốt của con người. Đây là lương tâm, tức là tâm thiện lương, chơn chánh.

Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch,

Qui thiên lương quyết sách vận trù.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).



Dầu chăng phải mực Thiên điều

Cũng quyền tự chủ dắt dìu thiên lương

(Kinh Tận Độ).



THIÊN MA BÁCH CHIẾT 

Thiên ma: Nghìn lần mài dũa. Bách chiết: Trăm lần gãy.

Thiên ma bách chiết là trải qua trăm nghìn gian nan, vất vả, vùi dập như trăm lần mài, nghìn lần gãy.



Đời những kẻ thiên ma bách chiết,

Hình thì còn bụng chết đòi nao.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



THIÊN NHAI HẢI GIÁC 

Thiên nhai: Bên trời, chỉ chỗ xa xôi nhất của trời.

Hải giác: Góc biển, lục địa ví như từ dưới biển nổi lên, chung quanh có góc, gọi là góc biển.

Thành ngữ nầy được dịch sang Việt ngữ là “Góc bể chơn trời”, dùng để chỉ nơi xa xôi nhứt.

Xem: Gốc bể chơn trời.

Vậy chẳng nài vạn lý lộ trình,

Lòng chi sá thiên nhai hải giác.

(Nhạc Hoa Linh).



Đã dạo khắp thiên nhai hải giác,

Lại tìm cùng tuyệt lãnh thâm sơn.

(Nhạc Hoa Linh).



THIÊN NHAN 

Thiên: Trời. Nhan: Mặt.

Vua thường gọi thiên tử, tức là con trời, nên chữ “Thiên nhan” dùng để nói mặt vua.

Đỗ Phủ có câu: Thiên nhan hữu hỷ cận thần tri  , nghĩa là mặt vua vui vẻ cận thần hay.

Năm canh luống chiêm bao lẩn quất,

Mơ tưởng còn phảng phất thiên nhan.

(Ai Tư Vãn).



Nay Thiên nhan xe hạc tách cung trời,

Vậy nên mỗ cư tang thọ phục.

(Nhạc Hoa Linh).



THIÊN SƠN 

Hay “Thiên San”.

Thiên Sơn là tên núi ở Phụng Thiên, nhà Đường đánh Cao Ly thường thường đóng quân ở đấy.

Thiên Sơn cũng là tên núi ở Tây Cương. Đời vua Đường Thái Tôn họ Vưu làm loạn, ông Tiết Nhơn Quý làm chức Tổng Quản đem binh đi trừ loạn. Khi lâm trận, Nhơn Quý chỉ dùng ba mũi tên giết ba người đầu não, khiến tinh thần giặc khiếp sợ, tất cả đều đầu hàng. Trong quân bây giờ có bài ca rằng: Tướng quân tam tiễn định Thiên San, Tráng sĩ trường ca nhập Hán quan  , , nghĩa là Tướng quân ba mũi tên bình định được núi Thiên San, kẻ tráng sĩ ca vang mà vào quan ải nhà Hán.



Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,

Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên Sơn.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



THIÊN TÀI 

Thiên: Trời. Tài: Hơn hẳn kẻ khác.

Thiên tài tức là tài giỏi do trời cho, sinh ra đã sẵn có, vượt hẳn người thường.

Nghĩa bóng: Chỉ những người tài giỏi phi thường.

Người quốc sắc, kẻ thiên tài,

Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.

(Truyện Kiều).



Rằng liễu khóc oanh có mấy ai,

Mộ người quốc sắc đấng thiên tài.

(Đạo Sử).



THIÊN TẢI GIAI KỲ 

Thiên tải: Nghìn năm. Giai kỳ: Buổi hẹn tốt đẹp.

Thiên tải giai kỳ có nghĩa là nghìn năm mới có một cơ hội tốt đẹp.

Nghĩa bóng: Việc rất quý và hiếm.

Cho hay thiên tải giai kỳ,

Trăng già xe đã phải thì đào non.

(Bích Câu Kỳ ngộ).



THIÊN TẢI NHẤT THÌ 

Thiên tải: Nghìn năm. Nhất thì: Một lúc.

Thiên tải nhất thì tức là nghìn năm mới có một cơ hội tốt.

Nghĩa bóng: Cơ hội hiếm có.

Nàng rằng: Thiên tải nhất thì,

Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.

(Truyện Kiều).



Chữ rằng: Thiên tải nhất thì,

Lọ gieo lá thắm, lọ xe chỉ hồng.

(Nữ Tú Tài).



THIÊN TÁNG 

Thiên: Trời. Táng: Chôn cất.

Thiên táng là chỗ đất trời dành cho, chứ không phải do con người chọn để chôn. Thường thường những chỗ đất ấy do mối đùn lên thành gò mả, không phải do người xây đắp.

Theo thầy địa lý, được chôn những chỗ đất thiên táng con cháu sau này sẽ được đại phát.

Anh nay nhờ phận ấm no,

Tổ nhân thiên táng, huyệt do mối đùn.

(Truyện Trinh Thử).



THIÊN TÀO 

Thiên: Trời. Tào: Mỗi công sở chia chức vụ ra từng bộ phận gọi là tào, mỗi tào phụ trách một việc khác nhau.

Thiên tào chỉ triều đình ở cõi thiên, tức chỗ làm việc ở trên trời, hay Trời.



Hai ông giữ sổ thiên tào,

Mạng dân sanh tử đều vào trong tay.

(Dương Từ Hà Mậu).



Có phen xem tượng thiên tào,

Kìa ngôi khanh tướng nọ sao quân thần.

(Ngoạ Long Cương Vãn).



Thiên Tào Thánh ngự an ngôi,

Cầu cho dân chúng khỏi hồi can qua.

(Kinh Thế Đạo).



Xem thân tuổi hạc càng cao,

E ra tử biệt Thiên Tào định phân.

(Kinh Thế Đạo).



Hỏi số từ thân sẽ thế nào?

Tám mươi gần mãn số Thiên Tào.

(Đạo Sử).



THIÊN TỨ VẠN CHUNG 

Thiên tứ: Nghìn cỗ xe ngựa. Vạn chung: Muôn chung thóc lương.

Nguyên ngày xưa bên Trung Hoa, cứ mỗi cỗ xe đóng bốn ngựa kéo gọi là ngựa tứ. Nghìn tứ là nghìn cỗ xe. Mỗi một chung đựng được sáu hộc đấu thóc lương, muôn chung tức là muôn lần số thóc ấy.

Thiên tứ vạn chung nói về hạng quan quyền phú quí, có hàng nghìn ngựa tứ, muôn chung lương.

Khoảng trời đất cổ kim kim cổ,

Mảnh hình hài không có, có không.

Lọ là thiên tứ vạn chung.

(Thơ Cao Bá Quát).



THIÊN THAI 

Tên một cái núi ở phía bắc tỉnh Chiết Giang, thế núi trông rất hùng vĩ, giống như một con rắn bò. Tương truyền đời nhà Hán có Lưu Thần Nguyễn Triệu cùng vào núi Thiên Thai hái thuốc, được kết duyên với hai nàng tiên xinh đẹp, và ở lại nửa năm, hai chàng nhớ quê hương, từ biệt hai nàng tiên ra về. Khi về quê cũ thì anh em họ hàng đã phiêu lưu tất cả, nhà cửa không còn, hỏi không ai nhận ra họ cả, vì họ đã có con cháu bảy đời.



Thiên Thai đành tỏ lối này,

Tiện đường Dương tướng dở say lại nhà.

(Hoa Tiên Truyện).



Gió Đằng kể khéo đưa duyên,

Chàng Lưu run rủi đến miền Thiên Thai.

(Quan Âm Thị Kính).



Gan chẳng đá khôn đường khá chuyển,

Mặt phàm kia dễ đến Thiên Thai.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



Đi hơn nửa tháng lao đao,

Đến nay mới thấy đường vào Thiên Thai.

(Dương Từ Hà Mậu).



THIÊN THƯ 

Thiên thư hay Thiên thơ là quyển sách của Trời.

Theo quan niệm người xưa, Thiên thư là quyển sách, trong đó ghi chép về thiên cơ, luật pháp, nguyên lý vận hành của vũ trụ và sự tiến hoá của vạn vật.

Lý Thường Kiệt có câu: Nam quốc sơn hà Nam Đế cư, tiệt nhiên định phận tại Thiên thư  , , nghĩa là non sông nước Nam do vua Nam ở, điều dĩ nhiên đã định sẵn nơi Thiên thơ.

1.- Thiên thư:

Nam giao là cõi ly minh,

Thiên thư định phận rành rành từ xưa.

(Quốc Sử Diễn Ca).

2.- Thiên thơ:

Thiên thơ án sách qua ngày tháng,

Một khắc cầm nên mấy lạng vàng.

(Quốc Âm Thi Tập).



Nhị kiếp Tây Âu cầm máy tạo,

Hữu duyên đông á nắm thiên thơ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



Ký thành một cuốn gọi Thiên thơ,

Khai Ðạo muôn năm trước định giờ.

(Đạo Sử).



THIÊN TRU ĐỊA LỤC 

Thiên tru: Trời giết phạt. Địa lục: Đất tiêu diệt.

Thiên tru địa lục tức là trời tru đất diệt, chỉ hình phạt mà trời đất đã dành cho người phạm tội.

Xem: Trời tru đất diệt.

Cho hay những tội lấy trai,

Thiên tru, địa lục, ai ai nên chừa.

(Dương Từ Hà Mậu).



THIÊN TRÚC 

Thiên Trúc là tên mà ngày xưa người ta dùng để chỉ nước Ấn Độ, nơi xuất phát của đạo Phật.

Nghĩa bóng: Nơi ở của Phật.

Đường qua Thiên Trúc chông gai,

Người trong biển khổ trông ai độ mình.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



Mây phủ tán, liễu che mành,

Nước non Thiên Trúc, cung đình Bồng Lai.

(Truyện Phan Trần).



THIÊN VẬN TUẦN HOÀN 

Thiên vận: Vận số của trời. Tuần hoàn: Chuyển vận theo vòng tròn.

Thiên vận tuần hoàn là vận số của trời đất chuyển vận theo một vòng tròn, vì vậy Dịch có câu: Thiên địa tuần hoàn châu nhi phục thuỷ  , nghĩa là Trời đất xoay vần giáp vòng rồi trở lại ban đầu.



Mới hay thiên vận tuần hoàn,

Loạn no trị dấy loạn tàn trị lên.

(Thiên Nam Ngữ Lục).



THIÊN VÕNG NAN ĐÀO 

Thiên võng: Lưới trời. Nan đào: Khó trốn.

Thiên võng nan đào tức là lưới trời lồng lộng khó mà chạy thoát được.



Ai ngờ thiên võng nan đào,

Giẫy giun thiếp bỗng tìm vào tới đây.

(Nữ Tú Tài).



THIỀN LÂM 

Thiền: Do tiếng Phạn là Thiền na chỉ sự thanh tĩnh. Lâm: Rừng,

Thiền lâm có nghĩa là rừng thiền, dùng để chỉ nơi chùa chiền, am tự.

Xem: Thiền môn.

Trú chân nương bóng Thiền lâm,

Có sư hoà thượng Tĩnh Tâm ra mời.

(Ngọc Kiều Lê).



THIỀN MÔN 

Thiền: Do tiếng Phạn là Thiền na chỉ sự thanh tĩnh. Môn: Cửa.

Thiền môn có nghĩa là cửa thiền, dùng để chỉ nơi chùa chiền, am tự.



Có khi dốc chí tu hành,

Lánh mình trần tục, nương miền Thiền môn.

(Quan Âm Thị Kính).



Ðiều đình gia thất vẹn nhơn luân,

Cái nẻo Thiền môn giống đám rừng.

(Đạo Sử).



THIỀN SONG 

Thiền: Do tiếng Phạn là Thiền na chỉ sự thanh tĩnh. Song:Cửa sổ.

Thiền song là cửa sổ nhà chùa, nơi làm việc sách vở, kinh kệ trong chùa. Thiền song dùng nghĩa với thư song là cửa sổ nhà học trò, nơi học trò học hành.



Hứng trời xuân, vui tham chơn đế,

Dựa thiền song dắng kệ coi kinh,

(Hứa Sử Tân Truyện).



THIỀN VU 

Dân tộc Hung Nô là dân tộc mọi rợ miền bắc Trung Quốc, còn gọi là rợ Hồ.

Thiền Vu là tiếng Hung Nô mà rợ Hồ dùng để gọi vua của họ như ở Trung Quốc gọi vua là Hoàng đế.

Sức tý dân dường sắt trơ trơ,

Máu Thiền Vu, quắc Nhục Chi.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



THIỆN ÁC ĐÁO ĐẦU 

Thiện ác: Lành dữ. Đáo đầu: Đến cuối cùng.

Bởi câu: Thiện ác đáo đầu chung hữu báo  , có nghĩa là ăn ở lành hay dữ, rốt cuộc đều có báo ứng.



Nhớ câu thiện ác đáo đầu,

Làm lành gặp phước, thế đâu có lầm.

(Dương Từ Hà Mậu).



Coi câu thiện ác đáo đầu..,

Lành đâu có trả, dữ đâu có đền.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



Thiện ác đáo đầu đã biết chưa

Hiểu rồi cái ác cũng nên chừa

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THIỆN CĂN 

Thiện căn đồng nghĩa với thiện bổn là cội lành hay gốc lành, tức là giữ lòng lành thật bền vững, không gì lay chuyển được.

Cái thiện căn có được là do nhiều kiếp trước làm việc thiện nên tạo được duyên nghiệp lành cho kiếp sau.

Dầu ai tin kính đạo nầy,

Hẳn là tiền kiếp đã dầy thiện căn.

(Hứa Sử Tân Truyện).



THIỆN ĐOAN 

Thiện: Lành. Đoan: Đầu mối.

Thiện đoan là mối lành. Người xưa cho rằng lòng hiếu thảo là một mối thiện đoan, vì sách có câu: Nhất hiếu lập nhi vạn thiện tòng  , nghĩa là có một lòng hiếu thì có muôn vạn điều hay ở đấy mà ra, cho nên hiếu là đầu mối của mọi việc thiện.



Cho hay phú dữ thiên chân,

Sinh ra ai cũng sẵn phần thiện đoan.

(Nhị Thập Tứ Hiếu).



THIẾP CANH 

Thiếp: Một tờ giấy trong đó ghi thiệp mời dự tiệc hay biên tên họ để xin yết kiến như danh thiếp. Canh: Tuổi tác.

Theo hôn lễ ngày xưa, khi nạp sính hai bên họ nhà trai, gái trao đổi tờ thiếp cho nhau, trong đó ghi lý lịch của đôi trai gái, gọi là thiếp canh hay canh thiếp.

Xem: Canh thiếp.

Nỗi Lưu nói kể sau xưa,

Tay trao cho nhận mấy tờ thiếp canh.

(Hoa Tiên Truyện).



Chỉ vì ngoại lỵ bấy lâu,

Chưa trao lễ nhạn mới đầu thiếp canh.

(Nhị Độ Mai).

 

THIẾP LAN ĐÌNH

Ở phía Tây nam tỉnh Triết Giang, Trung Quốc, trên sông Lam Chử có một cái đình, gọi là “Lan Đình”.

Xưa ông Vương Hy Chi cùng mấy bạn tụ họp ở đấy ngâm thơ uống rượu, có làm bài “Lan đình tập tự”.

Vương Hy Chi vốn là người viết chữ rất đẹp, nên những tờ thiếp ghi chép bài “Lan Đình Tập Tự” được người đời sau truyền tụng là “Thiếp Lan Đình”

Chữ Lan đình cũng có nghĩa là chữ viết đẹp.

Khen rằng: Bút pháp đã tinh,

So vào với thiếp Lan Đình nào thua!

(Truyện Kiều).



Tuyết Bá Ngạn, hoa Đỗ Lăng,

chẳng câu chẳng lạ.

Thiếp Lan Đình, tập Liên Xã,

mọi nét mọi màu

(Thập Giới Cô Hồn).



THIẾP TUYẾT 


Thiếp: Chữ viết đẹp để người ta bắt chước theo mà viết. Tuyết: Tùng Tuyết Đạo Nhân, biệt hiệu của ông Triệu Mạnh Phủ, người đời Tống, có tài viết chữ rất đẹp, thiếp chữ của ông được lưu lại cho đời.

Thiếp tuyết dùng để chỉ chữ đẹp.



Viện thơ, khung dệt, màn thêu,

Chữ đề thiếp tuyết cầm treo phả đồng.

(Hoa Tiên truyện).



THIẾT CỨ 


Thiết: Trộm cắp. Cứ: Chiếm giữ.

Thiết cứ là cướp trộm để lấy làm của riêng.



Đến sau chính sự đãi hoang,

Ngụy Tây thiết cứ bạo cường ngược dân.

(Hạnh Thục Ca).



THIẾT NGỌC THÂU HƯƠNG 


Thiết ngọc: Trộm ngọc, Thâu hương: Ăn cắp mùi thơm.

Thiết ngọc thâu hương là ăn trộm ngọc, ăn cắp mùi thơm, ý muốn nói sự dan díu thầm vụng, lén lút.



Dám nào thiết ngọc thâu hương,

Gìn trong danh tiết lánh đường phiền hoa.

(Truyện Trinh Thử).



THIẾT THẠCH 


Thiết: Sắt. Thạch: Đá.

Thiết thạch tức sắt đá, là hai loại vật chất cứng rắn và bền bỉ, dùng để ví với tấm lòng kiên định, không điều gì có thể lay chuyển được.

Sách Tam Quốc Chí có ví “Tâm như thiết thạch , nghĩa là lòng như sắt đá.

Xem: Sắt đá.



Thói tinh chiên Hộ tặc chỉn hăm,

Gan thiết thạch Tô Công dễ đổi.

(Văn Tế Nguyễn Biểu).



Đảng công khen đã nên lời,

Cứng lòng thiết thạch, hổ người tu mi.

(Nhị Độ Mai).



THIẾU THẤT 

Tên một ngọn núi cao ở Trung Quốc, trên đó có chùa Thiếu Lâm, nơi mà Đạt Ma Tổ Sư đến truyền đạo và tu luyện. Bởi vì ngọn núi quá cao, nên lúc nào đỉnh núi trông cũng đen như mực.



Đầu non Thiếu Thất đen bằng mực,

Dòng nước Liêm Khê lục nữa lam.

(Thơ Nguyễn Trãi).



THIỀU NHẠC 

Hay nhạc Thiều là tên một bản nhạc cổ đời Nghiêu Thuấn. Nói chung về âm nhạc.



Trong nhà nhộn nhịp, tưng bừng,

Âm thầm thiều nhạc, lẫy lừng tiệc hoa.

(Nhị Độ Mai).



THIỀU QUANG 


Thiều: Xinh đẹp. Quang: Ánh sáng.

Thiều quang là chỉ mùa xuân, bởi vì mùa xuân có ánh sáng rất đẹp đẽ.



Ngày xuân con én đưa thoi,

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

(Truyện Kiều).



Gió xuân rút cánh buồm duyên,

Thiều quang chín chục, vân yên một chèo.

(Mai Đình Mộng Ký).



Rỡ ràng chín chục thiều quang,

Gió thanh, mây lặng, vẻ vang một trời.

(Dương Từ Hà Mậu).



Thiều quang nhặt thúc khuất màu xuân,

Trở bước quanh co rán liệu chừng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



U hiển không từ nhơn nghĩa cũ,

Gặp nhau xin phó bóng thiều quang.

(Đạo Sử).



THIỀU QUÂN 

Tức là hai loại nhạc: Tiêu Thiều và Quân Thiên Quảng Nhạc.

Nhạc Tiêu Thiều của Đế Thuấn mỗi khi tấu đủ chín khúc thì có chim phượng bay liệng trên không để chào mừng.

Quân Thiên Quảng Nhạc là nhạc của thiên đình, mỗi khi bách thần lên chầu trời thì được thưởng thức chín khúc nhạc và muôn ngàn điệu múa.



Mây họp đền nam chầu chực sớm,

Bên tai dường mảng tiếng Thiều Quân.

(Hồng Đức Quốc Âm).



THIỆU CƠ CỪU 


Thiệu: Tiếp nối. : Nghề đương thúng. Cừu: Nghề làm áo bằng da thuộc.

Sách Lễ Ký viết: Con ông Lương Dã quyết chí học nghề làm áo cừu của cha. Con ông Lương Cung tiếp nối nghề đương thúng của cha.

Thiệu cơ cừu tức là tiếp nối nghề cơ nghề cừu, ý nói con kế nghiệp cha.

THỈNH ANH 

Thỉnh anh xin một sợi dây.

Do tích đời vua Võ Đế nhà Hán cùng với nước Nam đánh nhau. Chung Quân đương là bác sĩ, mới hai mươi tuổi, đứng ra tâu xin một sợi dây, tình nguyện đem dây đó đi trói vua nước Nam.

Bột tôi vốn trẻ thơ ba thước,

Tuổi thư sinh chưa được thỉnh anh.

(Thơ Lãng Nhân).



THỊT XÁO NỒI DA

Bởi câu “Bì oa chử nhục  ” là lấy nồi bằng da đem nấu thịt.

Do câu chuyện người thợ săn khi bắt được thú rừng làm thịt, người thợ săn thường lấy da làm nồi để nấu thịt.

Thịt xáo nồi da dùng để chỉ anh en ruột thịt giết hại lẫn nhau.



Nhạc than cùng Huệ,

Thịt xáo nồi da.

Huệ thấy khốn cùng,

Mới cho giảng hoà.

(Việt Sử Tứ Tự Ca).



THỎ BẠC ÁC VÀNG

Dịch từ chữ “Bạch thố kim ô  ”.

Bạch thố là thỏ bạc, do tục truyền trên mặt trăng có con thỏ trắng giã thuốc, nên còn gọi mặt trăng là bạch thỏ hay ngọc thỏ.

Kim ô là ác vàng, cũng do tương truyền trong mặt trời có con ngựa ba chân, nên gọi mặt trời là kim ô.

Thỏ bạc ác vàng chỉ hết mặt trăng bạc tới mặt trời vàng, tức nói hết đêm tới ngày.

Xem: Ác vàng thỏ bạc.



Lần lần thỏ bạc ác vàng,

Xót người trong hội đoạn tràng đòi cơn!

(Truyện Kiều).



Đông lộ vừa treo thỏ bạc,

Tây đoài đã xế ác vàng.

(Nhạc Hoa Linh).



THỎ LẶN

Thỏ, ý chỉ mặt trăng, do chữ “Ngọc thố  ” tức là thỏ ngọc.

Thỏ lặn là nói mặt trăng lặn. Do tích thỏ nhân đức hy sinh cứu đói đồng loại nên được Đức Phật cho lên sống nơi cung trăng.

Xem: Thỏ ngọc.



Trải bao thỏ lặn ác tà,

Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm.

(Truyện Kiều).



THỎ NGỌC

Bởi chữ “Ngọc thố  ”.

Theo kinh Phật, có con thỏ nhân đức, hy sinh thân mình để làm món ăn cho các con thỏ đói. Phật thương tình mới lượm xương con thỏ nhơn đức, làm cho nó sống lại rồi đem lên cung trăng. Vì thế, ngọc thố hay thỏ ngọc chỉ mặt trăng.

Xem: Ngọc thỏ.



Ngựa vàng ruổi gió thoi đưa sáng,

Thỏ ngọc trau gương đậm vẻ làu.

(Đạo Sử).



THỌ DƯƠNG 

Thọ Dương tức Thọ Dương Công chúa, con gái vua Võ Đế đời Tống bên Tàu, giữa ngày mồng 7 tháng giêng nằm dưới hiên điện Hàm Chương, hoa mai rụng xuống trán, thành hoa năm cánh, gọi là mai hoa trang.

Nghĩa bóng:Chỉ sự trăng hoa, lẳng lơ.

Dù ai nấy có tình chẳng cứ,

Thói Thọ Dương vẫn cứ không chừa.

(Gia Huấn Ca).



THỌ ĐƯỜNG 


Thọ: Sống lâu, chữ dùng để chỉ quan tài. Đường: Cái nhà.

Thọ đường, nghĩa đen là nhà của người già ở. Nghĩa bóng tức là cái quan tài sắm trước cho những người già cả, người xưa gọi là thọ dưỡng sanh.



Dạy mua hai cỗ thọ đường,

Phòng khi nhất đán phi thườngcho ai!

(Nhị Độ Mai).



THỌ GIỚI QUY Y 


Thọ giới: Tiếp nhận và nguyện gìn giữ giới luật. Quy y: Quay về và nương tựa vào tam bảo Phật, Pháp, Tăng để được gia hộ và hướng dẫn trên hai con đường tu học đời và đạo.

Thọ giới quy y để trở thành Phật tử tại gia, Sa di, tỳ kheo. Để trở thành Phật tử tại gia thì phải quy y tam bảo và thọ năm giới, sa di thì phải thọ mười giới, Tỳ kheo thọ 250 giới, gọi là thọ cụ túc giới.



Cầu thầy thọ giới quy y,

Xin cho đặng phái tu trì hộ thân.

(Hứa Sử Tân Truyện).



THỌ PHÁP 

Hay “Thụ pháp”.



Thọ (Hay thụ): Nhận lấy. Pháp: Đạo pháp, giáo pháp, những lời dạy của chư Phật và Bồ Tát…

Thọ pháp là tiếp nhận những giáo pháp, những lời dạy của chư Phật và Bồ Tát, cùng những giới luật tu hành trong tôn giáo.



Qui y thọ pháp Như Lai,

Vưng truyền năm giới, hôm mai giữ gìn.

(Hứa Sử Tân Truyện).



THỌ VỰC XUÂN ĐÀI 


Thọ vực: Cõi thọ. Xuân đài: Đài xuân.

Ngày xuân lên đài cao, nhìn xa xa, tâm thần hây hây sung sướng. Chỉ cảnh tượng thái bình.



Xin mừng già trẻ gái trai,

Ở trong thọ vực, xuân đài vẻ vang.

(Thanh Hoá Quan Phong).



Hây hây thọ vức xuân đài;

Tu vậy thiệt trang thượng trí.

(Sãi Vãi).



THOA CUNG HÁN

Cái trâm cài tóc đời nhà Hán.

Do tích: Hán Võ Đế dựng điện Chiêu Linh có hai thần nữ dâng cho cái thoa ngọc. Vua Hán mới ban cho bà Triệu Tiếp Dư. Về sau có người ghen ghét mưu đập vỡ thoa ấy, khi mở trấp bỗng hoá thành chim yến bay lên trời. Ý chỉ vật quý báu.

Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá,

Gương lầu Tần dấu đã soi chung.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



THOÁT HÀI DỊCH LÝ 

Sách xưa có câu: Thoát hài dịch lý, Trình Bằng Cử nhân phụ thành danh  , , nghĩa là cởi giầy đổi dép, ông Trình Bằng cử nhơn vợ thành danh.

Chuyết Canh Lục ghi: Ông Trình Bằng Cử bị giặc bắt hồi cuối nhà Tống, giặc bán vào làm gia nô ông Trương Vạn Hộ. Quan Vạn Hộ đem một người con gái, con của người bị bắt đưa đến quan, gả cho Bằng Cử.

Cô gái thường khuyên Bằng Cử trốn về quê hương lập công danh. Bằng Cử lại đem cáo với Trương Vạn Hộ. Ông Vạn Hộ dạy đem cô gái ấy ra chợ bán. Lúc sắp đi, cô gái ấy cởi một chiếc giầy thêu, đổi lấy chiếc dép của Trình, khóc mà nói rằng: Hẹn giữ lấy vật này để gặp nhau! Trình tỉnh ngộ và cảm động, trốn về quê hương. Sau ra làm quan trào nhà Nguyên, đến chức Tham Chính Tri sự hành tỉnh Thiểm Tây, giữ nghĩa không tái thú, rồi sai người tìm kiếm vợ ông. Được nghe vợ ông thủ tiết làm ni cô, ông liền đem giầy và dép đến đọ nhau…Rước nàng đem về, vợ chồng được trùng phùng với nhau.



THOÁT TỤC 


Thoát: Ra khỏi. Tục: Cõi thế gian, khác với cõi Tiên, cõi Phật.

Thoát tục là thoát vòng trần tục, tức là thoát khỏi nơi luân hồi khổ não của cõi thế gian này.



Muốn nghe đấng tu mà thoát tục,

Hãy còn trang thượng trí chi tu.

(Sãi Vãi).



Dìu đường thoát tục nắm phan,

Trông Kinh Bạch Ngọc định thần giải căn.

(Kinh Tận Độ).



THÓI BỘC DÂU

Bộc dâu do chữ “Tang gian Bộc thượng  ” là trên Bộc trong dâu là nơi trai gái thường đến đó tư tình với nhau.

Thói bộc dâu là nói thói lẳng lơ, dâm loàn.

Xem: Trên Bộc trong dâu.



Tình si hai chị đổi bao sầu,

Trở trách anh chừa thói Bộc dâu,

(Thiên Thai Kiến Diện).



THÓI BƯỚM ONG

Chỉ thói trăng hoa, vì loài bướm ong thích hút mật nhuỵ của bông hoa. Bướm ong gặp hoa liền đáp vào để hút mật, ví như trai gái thấy nhau thì hò hẹn đùa bỡn.

Xem: Bướm ong.

Bởi sao khuya khoắt đường mây móc,

Mà bỗng thày lay thói bướm ong.

(Lâm Tuyền Kỳ Ngộ).



THÓI ĐƯỜNG CUNG

Thói dâm loạn trong cung đời nhà Đường.

Nói việc Lý Thế Dân giết anh ruột của mình là Tiểu Lạc Vương Nguyên Cát rồi đoạt lấy vợ, tức là lấy chị dâu. Sau Thế Dân được lên ngôi xưng hiệu là Đường Thái Tông. Xem: Thế Dân.

Hay là học thói Ðường cung,

Vợ người Tiểu Lạc sánh cùng Thế Dân.

(Lục Vân Tiên).



THÓI MẠT

Thói mạt là thói hung tàn bạo ngược, thói hư tật xấu của thời mạt pháp.

Theo Phật, giáo pháp của Đức Phật Thích Ca đã trải qua ba thời kỳ: Chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp. Mạt pháp là thời kỳ cuối cùng của Phật giáo, trong đó giáo pháp bị sửa đổi sai lạc, thất chân truyền, khiến cho người tu bị lầm lạc, vì vậy, luân thường đạo lý trong xã hội băng hoại.

Ngán thay thói mạt bấy chừ,

Nhiều nhà thất giáo, con hư lắm nầy.

(Huấn Nữ Ca).



THÓI MÂY MƯA

Mây mưa do chữ “Vân vũ  ” lấy điển từ Sở Tương Vương đi chơi ở đầm Vân Mộng, chiêm bao thấy cùng Thần nữ núi Vu Sơn ái ân, hoan lạc.

Thói mây mưa tức chỉ thói lẳng lơ, dâm loạn.

Giận con ra thói mây mưa,

Hùng vương truyền lịnh thuyền đưa bắt về.

(Quốc Sử Diễn Ca).



THÓI MỌI

Thói mọi hay thói mọi rợ là chỉ bọn man di mọi rợ, chưa được khai hoá.

Người xưa thường dùng chữ Man, Di, Hồ, Lỗ hoặc mọi rợ để chỉ bọn xâm lược, giặc cướp.

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm,

ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

(Văn Tế Nghĩa Sĩ).



THÓI NƯỚC TỀ

Thói dâm loạn, bất chánh của vua nước Tề là Hoàn Công.

Nguyên công tử Tiểu Bạch tỵ nạn ở nước Cử, được Bảo Thúc Nha phò về nước, rồi triều thần đưa lên ngôi, xưng là Tề Hoàn Công. Hoàn Công sai người giết anh mình là công tử Củ đang ở nước Lỗ và chiếm đoạt vợ của Củ làm vợ mình.

Xem: Tử Củ.



Hay là học thói nước Tề.

Vợ người Tử Củ đưa về Hoàn Công.

(Lục Vân Tiên).



THÓI NƯỚC TRỊNH

Tức là thói dâm loàn của trai gái nước Trịnh thời Xuân Thu.

Do Kinh Thi có ghi lại một số bài thi nước Trịnh, phản ảnh về nước Trịnh có phong tục xấu, trai gái thường hay dâm loạn nơi ruộng dâu hay bên bờ sông Bộc. Xem: Nước Trịnh.

Chẳng phen thói nước Trịnh đâu,

Hẹn người tới giữa vườn dâu tự tình.

(Lục Vân Tiên).



THÓI TỆ

Bởi chữ “Tệ tục  ”.

Thói tệ có nghĩa là phong tục xấu, tức là những lề thói trong xã hội xấu xa hư hỏng.

Ôi! thói tệ, hỡi ôi thói tệ,

Mình là người há nỡ dễ khi người.

(Phương Tu Đại Đạo).



THỔ QUAN 

Thổ quan là vị quan có nhiệm vụ cai trị, vỗ về các dân tộc chưa khai hoá như chức Thổ ty. Do triều đình lựa chọn người dân bản xứ, chứ không bổ quan ở các nơi khác đến. Ngoài Thổ ty, còn có các chức quan khác như Thổ tri phủ, Thổ tri huyện, Thổ tri châu…



Lệnh quan, ai dám cải lời,

Ép nàng đem gán cho người thổ quan.

(Truyện Kiều).



THỔ VÕ 

Hay “Thổ vũ”.



Thổ: Đất. : Đất đai, võ còn là toà nhà (Miếu võ).

Thổ võ là đất đai của một nước. Thổ võ còn dùng để chỉ toà nhà thờ thần đất.



Nay đã tóm thâu thổ võ,

Đem về một mối kỷ cương.

(Nhạc Hoa Linh).



Danh vọng ru hồn quên thổ võ,

Thẹn nòi bộc lại mộ đai cân.

(Đạo Sử).



THÔI TRƯƠNG 

Thôi Trương tức là Thôi Oanh Oanh và Trương Củng, tự là Quân Thuỵ, hai nhân vật chính nổi tiếng trong tác phẩm của Vương Thiệt Phủ, đời nhà Nguyên, đó là “Tây Sương Ký”.

Thôi Oan Oanh cùng Trương Quân Thuỵ yêu nhau và đã từng ân ái mặn nồng ở mái tây chùa Phổ Cứu, trước khi hai người kết hôn với nhau. Về sau, Trương Quân Thuỵ phụ bạc Thôi Oanh Oanh để đi lấy một người đàn bà khác.

Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,

Lứa đôi, ai lại đẹp tày Thôi Trương.

(Truyện Kiều).



THÔI VĂN ĐỐC VŨ 


Thôi văn: Thúc đẩy việc văn. Đốc vũ: Dốc lòng luyện tập võ bị.

Thôi văn đốc vũ nghĩa là thúc đẩy việc học văn và đôn đốc việc luyện võ.



Thôi văn đốc vũ,

việc ngoài đình đều đã sửa sang,

Cõi hoá ngàn nhân,

tôi nội đài xá ư dạy nhủ.

(Cung Trung Bảo Huấn).



THÔN Dà


Thôn: Làng xóm. : Quê, đồng nội.

Thôn dã tức là cảnh ở đồng quê, có làng xóm, cây cối, đồng ruộng.



Ngại ở nhân gian lưới trần,

Thì nằm thôn dã miễn yên thân.

(Quốc Âm Thi Tập).



THƠ CHIM

Hay “Thư chim”, tức là viết thư rồi buộc vào chân chim cho mang đi.

Do tích: Dương Nhuận Chi có người vợ tên là Tuý Tiêu, đẹp tuyệt trần, bị quan Trụ Quốc thấy được, bèn sai quân bắt về làm thiếp. Nhuận Chi không dám thưa kiện vì sợ thế lực của quan Trụ Quốc, đành ôm mối hận lòng. Mỗi khi Dương Nhuận Chi nhớ nàng Tuý Tiêu chỉ còn biết viết thơ qua lại nhờ chim én mang đi.

Đừng đề thi lá thơ chim,

Cầu hôn để phụng đến tìm cung loan.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THƠ ĐÀO

Thơ đào tức là đào tơ mơn mởn, chỉ người con gái trẻ đẹp đến tuổi lấy chồng, do bài “Đào yêu” thơ Quốc Phong, trong Kinh Thi.

Xem: Đào yêu.

Căm giận tanh hôi chốn bất mao,

Suối vàng nên luỵ khách thơ đào.

(Truyện Vương Tường).



Vẹo trăm nết hạnh kiếp thơ đào,

Ðừng để thường tình chịu sóng xao.

(Đạo Sử).



THƠ LÝ

Tức là thơ của Lý Bạch, hiệu là Thanh Liên Cư Sĩ, là một thi hào bậc nhứt đời Đường, tính tình hào hiệp, thích uống rượu ngâm thơ.



Thơ Lý ngâm nga khi mở quyển,

Đàn Nha tình tính lúc lần dây.

(Thơ Nguyễn Khuyến).



THƠ NHÀN

Hay “Thư nhàn”, tức là viết thư rồi buộc vào chân chim nhạn cho mang đi, chỉ thư từ , tin tức.

Xem: Tin nhàn.

Thác rồi theo mưa ngút biển muôn trùng,

khôn mượn thơ nhàn đem tin tức.

(Văn Tế Trương Định).



THỜ TRÊN NUÔI DƯỚI

Dịch từ chữ trong thiên Lương Huệ Vương, sách của Mạnh Tử: Ngưỡng túc dĩ sự phụ mẫu, phủ túc dĩ súc thê tử  , , nghĩa là ngẩng lên đủ để phụng dưỡng cha mẹ,cuối xuống đủ để nuôi nấng vợ con.

Nghĩa bóng: Chỉ bổn phận đối với cha mẹ, vợ con.

Nước non theo thói ẩn cư,

Thờ trên nuôi dưới, nên hư mặc trời.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



THỢ TRỜI

Bởi chữ “Hoá công  ” để chỉ Đấng Tạo hoá, hay Trời.

Bài phú của Giả Nghị có câu: Thiên địa vi lô, tạo hoá vi công  , , nghĩa là trời đất làm cái lò, Đấng Tạo hoá làm thợ. Vì vậy mà người ta dùng chữ “Thợ trời” để chỉ Tạo hoá.

Thợ trời dù hẳn vô tình,

Làm chi đem giống khuynh thành trêu ai?

(Hoa Tiên Truyện).



THỜI VÕ 

Hay “Thời vũ”.

Thời võ là mưa phải thời, mưa đúng lúc. Lấy ý từ câu chữ trong sách Mạnh Tử: Thời võ giáng, dân đại duyệt  , nghĩa là mưa đúng lúc dân chúng vui mừng. Ngày xưa, quân lính của vua Thang đi đánh đến đâu như mưa phải thời xuống, dân chúng đều vui mừng chờ đón.

Qua Canh Tuất lại tưới cơn thời vũ,

cỏ cây đều đội đức triêm nhu.

(Tụng Cảnh Tây Hồ).



THỜN BƠN MỘT BỀ

Thờn bơn: Tên một loại cá có mình dẹp, ở Nam Việt gọi là cá lưỡi trâu. Một bề: Một phía.

Thờn bơn một bề có nghĩa là nằm một chiều, không trở bề lại được, tức là chịu yên một bề.



Tóc tơ giải hết nguồn cơn,

Quyết liều chịu tốt thờn bơn một bề.

(Truyện Trinh Thử).



THU BA 


Thu: Mùa thu. Ba: Sóng nước.

Sóng nước mùa thu đầy và trong trẻo nên trong văn chương người thường dùng để ví với sóng mắt người đàn bà con gái đẹp. Đồng nghĩa với chữ “Thu thuỷ” tức nước mùa thu.

Thơ Tô Thức có câu: Giai nhân vị khẳng hồi thu ba  , nghĩa là người đẹp chưa chịu quay sóng thu, tức chưa chịu quay lại nhìn.

Áng đào kiển, đâm bông não chúng,

Khoé thu ba dợn sóng khuynh thành.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



Nàng càng ủ dột thu ba,

Đoạn trường khi ấy nghĩ mà buồn tênh.

(Truyện Kiều).



Vừa cơn mây bợn trăng lòa,

Mảnh tình gởi nét thu ba đưa vào.

(Hoa Tiên Truyện).



THU KHÔNG 


Thu: Nhận lấy. Không: Trống không.

Thu không tức là thu ban ngày, có nghĩa là trời bắt đầu tối.

Theo Hán Việt Từ Nguyên, chữ “Thu không” vốn là “Sưu không  ”, với chữ Sưu là lục soát.

Ngày xưa ở Kinh thành, hay các tỉnh, mỗi khi trời sắp tối, quân lính đi lục xét trong thành, khi thấy không có quân gian ẩn núp, lúc ấy mới ra hiệu đánh chiêng, đánh trống để đóng cửa thành. Tiếng chiêng tiếng trống gọi là thu không, dùng để chỉ trời sắp tối.



Kiều từ trở gót trướng hoa,

Mặt trời gác núi, chiêng đà thu không.

(Truyện Kiều).



Mảng sầu muộn ngổn ngang trăm mối,

Chùa thu không bóng tối mịt mờ.

(Nữ Trung Tùng Phận).



Thu phòng học chước thu không,

Đốt hương cho ấm cho nồng phòng tiêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THU THIÊN 

Tên một trò chơi, gọi là đu dây, gồm có hai cây cột trồng hai bên, giữa có đóng một thanh ngang trên đầu cột. Trên thanh ngang ấy thả xuống hai sợi dây thừng, cột vào tấm ván. Khi đu, đứng trên ván hai tay nắm vào sợi dây, đưa mạnh qua lại. Ngày xưa bên Trung Quốc, các cung nữ trong triều đình hay chơi đu thu thiên, người gọi trò này là bán thiên hý (Trò chơi nửa đêm).



Dù mặt lạ đã lòng quen,

Cả liều đến gốc thu thiên hỏi nàng.

(Bích Câu Kỳ Ngộ).



THU THUỶ XUÂN SƠN 

Do câu trong Tình Sử chép: Nhãn như thu thuỷ, my tự xuân sơn  , , nghĩa là ánh mắt trong như nước mùa thu, lông mày phơn phớt tợ núi mùa xuân.



Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

(Truyện Kiều).



THÚ CẦM 


Thú: Tiếng chỉ chung loài vật có bốn chân. Cầm: Chỉ chung các loài có lông, cánh.

Thú cầm là loài chim thú, thú chạy chim bay.



Xem cây cỏ như màu thảm đạm,

Ngó thú cầm dường cảm đau thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THỦ CẤP 


Thủ: Đầu. Cấp: Thứ bực.

Ngày xưa, theo chế độ nhà Tần, người nào ra chiến trận giết chết kẻ địch thì được thưởng tước lộc và hễ cứ chém được một đầu kẻ giặc thì lên một cấp bậc, do đó đầu của kẻ địch được gọi là “Thủ cấp”.



Nhĩ đẳng hưu tỵ tẩu bôn trì,

Kíp hạ mã hiến lai thủ cấp.

(Nhạc Hoa Linh).



THỦ TÚC 


Thủ: Cái tay. Túc: Cái chân.

Thủ túc là tay và chơn, chỉ tình anh em ruột thịt.

Trang Tử nói: Huynh đệ như thủ túc, phu thê như y phục; y phục phá thời cánh đắc tân, thủ túc đoạn thời nan tái tục  , ; , , nghĩa là anh em như tay chân, vợ chồng như áo quần. Áo quần rách lại may mới được, chân tay đứt thì khó bề nối lại đặng.



Dón coi thủ túc đôi bên,

Trong ba âm, với ngoài liền ba dương.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



Niềm thủ túc đã đành vĩnh biệt,

Càng nhớ nhau càng tiếc tình nồng.

(Kinh Thế Đạo).



Dầu đắn đo cũng nghĩa đồng bào,

Dầu ngọt dịu người sao hơn thủ túc.

(Phương Tu Đại Đạo).



Thủ túc tình thâm ấy bạn vàng,

Đừng phân anh tiện với em sang.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

THỦ THIỆN PHỤ NHÂN 

Thủ thiện: Lấy điều lành. Phụ nhân: Giúp cho người khác.

Thủ thiện phụ nhân là chữ của Chu Hy chú lời Tăng Tử trong sách Luận Ngữ: Thủ thiện dĩ phụ nhân, tắc đức nhất tiến  , nghĩa là giữ điều lành để giúp làm điều nhân thì đức ngày càng tiến. Ý muốn nói nhờ bạn tốt để trở thành người tốt.



Nhớ câu: Thủ thiện phụ nhân,

Nhờ người biết trước mở lần biết sau.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



THUẤN ĐẾ 

Tức là vua Thuấn, một ông vua cai trị trong thời Thượng cổ, đất nước được thái bình thịnh trị. Thuấn là người con chí hiếu, cha và mẹ ghẻ Thuấn nhiều lần tìm cách hại, nhưng ông vẫn một mực giữ tròn hiếu đạo. Vua Nghiêu nghe tiếng bèn gả con gái và nhường thiên hạ lại cho Thuấn.

Xem: Ngu Thuấn.

Gương đạo noi theo đời Thuấn Ðế,

Ðế dân vẹn giữ lối Văn Vương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THUẤN NGHIÊU 

Vua Thuấn và vua Nghiêu là hai vị vua thời thượng cổ của nước Trung Hoa, sau Phục Hy, Thần Nông và Huỳnh Đế, rất nhân từ minh chánh.

Dưới thời của hai vua Nghiêu, Thuấn, thiên hạ thái bình, đất nước thạnh trị, nhân dân no ấm, người ta gọi thời đó là “Nghiêu thiên Thuấn nhựt” (Ngày Nghiêu tháng Thuấn).

Hồn phách đâu đều ngày chẳng Thuấn Nghiêu,

Hài cốt đó cũng nước non Thang Vũ.

(Trận Vong Tướng Sĩ).



Nuôi con mới biết lòng cha mẹ,

Thấy loạn thì hay đời Thuấn Nghiêu.

(Quốc Âm Thi Tập).



THUẦN LÔ 

Thuần: Rau thuần. : Cá mè.

Do câu “Thuần canh lô khoái  ”, tức là canh rau thuần, gỏi cá mè.

Trương Hàn đời nhà Tấn, đi làm quan xa, nhớ đến mùi vị của quê hương mình là canh rau thuần và gỏi cá mè, mới nói rằng: Ở đời lấy thích chí làm quý, cần gì tước lộc mà phải xa quê hương. Vì vậy, ông nghỉ làm quan, trở về xứ sở.

Nghĩa bóng: Ở ẩn hoặc nhớ quê hương.



Nhớ thuần lô sẵn ngòi sâu nước rộng,

Buổi quy lai gió thổi rụng cành ngô.

(Thơ Phạm Thái).



THUẦN LƯƠNG 

Thuần: Tốt đẹp. Lương: Tốt.

Thuần lương là người có lòng tốt, thành thật và ngay thẳng.



Tiếng nhân hiếu đồn vang thiên hạ,

Thói thuần lương hóa cả lê nguyên.

(Nhị Thập Tứ Hiếu).



THUẦN PHONG 

Do thành ngữ “Thuần phong mỹ tục  ” là phong tục thuần hậu tốt đẹp.



Thuần: Không lẫn chất khác, thành thật, tốt đẹp. Phong: Phong tục, lề thói.

Thuần phong là phong tục lành mạnh.



Phật pháp khuyến nhơn qui mỹ tục,

Nho Tông phục thế hưởng thuần phong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THÚC GIÁP 

Thúc: Bó, cột lại. Giáp: Áo của binh sĩ mặc.

Thúc giáp là xếp áo giáp để bó cột lại đem cất, ý muốn nói không còn chiến đấu nữa, tức hưu chinh, giải binh, đình chiến…



Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng,

Hẹn kỳ thúc giáp, quyết đàng giải binh.

(Truyện Kiều).



THÚC QUÝ 

Thúc quý là chỉ lúc sau cùng. Đời thúc quý là chỉ lúc cuối nhà Đường, thiên hạ loạn lạc, dân tình khổ sở. Năm họ lần lượt tranh giành nhau, đó là đời Ngũ đại hay đời Ngũ quý: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu.



Ghét đời Thúc quý phân băng,

Sớm đầu tối đánh, lằng nhằng rối dân.

(Lục Vân Tiên).



Hồng châu Khúc Hạo hùng tài,

Gặp đời Thúc quý toan bài bá vương.

(Quốc Sử Diễn Ca).



THÚC TỀ

Thúc Tề là em của Bá Di, con của vua Cô Trúc ở cuối đời Thương, đầu đời Châu. Vua cha truyền ngôi cho Thúc Tề, Thúc Tề không chịu, nhường lại cho Bá Di cho phải lẽ. Bá Di cũng không chịu, nhường lại cho Thúc Tề để tuân lệnh cha. Hai anh em không ai chịu nhận rồi cả hai trốn vào núi ở ẩn.

Khi Võ Vương cử binh đi đánh Trụ, Thúc Tề cùng anh đến trước đầu ngựa can ngăn, nhưng Võ Vương không chịu nghe, sau diệt được vua Trụ, lên làm vua xưng hiệu nhà Châu, thiên hạ đều thần phục, chỉ Bá Di, Thúc Tề không thờ nhà Châu và không chịu hưởng lộc nhà Châu.

Xem: Di Tề.



Hành thuyền kỵ mã miệng đời chê,

Thầy tưởng thân con tỉ Thúc Tề.

(Đạo Sử).



THỤC ĐẾ 

Thục Đế là tên một giống chim, còn gọi là Tử quy hay Đỗ vũ hay Đỗ quyên.

Chim Đỗ quyên có miệng lớn, đuôi dài, lưng màu tro, bụng sắc trắng. Tiếng kêu của nó réo rắt, buồn thảm, khiến người lữ khách động lòng nhớ quê hương.

Tương truyền, Thục chúa Đỗ Vũ thông dâm với vợ Biết Linh và sau đó truyền ngôi lại cho Biết Linh, rồi bỏ nước mà ra đi. Sau chết, Thục Đế hoá thành chim Đỗ quyên ngày đêm kêu mãi vì nhớ nhà nhớ nước.

Xem: Đỗ quyên.

Khúc đâu êm ái xuân tình,

Ấy hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên.

(Truyện Kiều).



Kẻo lòng tơ tưởng mơ mòng,

Khỏi hồn Thục Đế, khỏi lòng Đỗ Quyên.

(Truyện Trinh Thử).



Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ

Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ.

(Thơ Nguyễn Khuyến).



THỤC NỮ 

Thục: Hiền lành trinh thuận. Nữ: Người con gái.

Thục nữ dùng để chỉ người con gái hiền lành nề nếp, trinh thuận.

Kinh Thi có câu: Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu  , , nghĩa là người thục nữ yểu điệu, nghĩa là con gái nết na xinh đẹp, xứng đôi cùng người quân tử.

Cho hay thục nữ chí cao,

Phải người tối mận sớm đào như ai.

(Truyện Kiều).



Đừng cho nhiễm lấm thân thục nữ,

Chốn phòng the cứ xủ rèm là.

(Nữ Trung Tùng Phận).



E khi mắc đảng hành hung,

Uổng trang thục nữ sánh cùng thất phu.

(Lục Vân Tiên).



THUẾ SƯU  .

Thuế: Tiền mà dân chúng phải nạp cho nhà nước để dùng vào những việc lợi ích chung. Sưu: Hay sưu dịch là mỗi năm người dân phải làm một số ngày nhứt định những công việc cho nhà nước. Như đào kênh, vét sông, đắp đường...

Thuế sưu là nói nghĩa vụ đóng góp hằng năm của người dân phải có đối với nhà nước.



Chớ làm con giặc tôi loàn,

Thuế sưu đóng đủ đừng toan kế tà.

(Kinh Sám Hối).



THUÝ ÁI

Sông Thuý Ái là nơi tướng Ngô Cảnh Hoàn thua quân Tây Sơn chết và cũng là nơi bà Phan Thị Thuấn, ái thiếp của Hoàn trầm mình tự tử.

Xem: Sông Thuý Ái

Thuý Ái nghìn đời dòng nước biếc,

Làm gương cho khách thế gian coi.

(Vịnh Phan Thị Thuấn, Khuyết Danh).



Xanh xanh Thuý Ái vầng trăng bạc,

Soi xuống lòng sông suốt mấy trùng.

(Vịnh Phan Thị Thuấn, Khuyết Danh).



THUÝ DỊCH 

Thuý: Màu xanh biếc. Dịch: Tức dịch đình là nhà ở bên cung điện vua (Trong cung cấm), hay gọi là cấm dịch.

Thuý dịch là nơi cung thự sơn màu xanh, ở hai bên cửa vào đại nội, tức tòa nhà ở sân trong cung điện dành cho các cung phi.



Tiếng thánh thót cung đàn thuý dịch,

Giọng nỉ non ngón địch đan trì.

(Cung Oán ngâm Khúc).



THUÝ UYÊN 

Thuý: Tức chim Phỉ thuý (Chim trả). Uyên: Tức chim uyên ương, một thứ chim con đực gọi là uyên, con mái gọi là ương.

Tương truyền chim thuý và chim uyên thường bay một cặp, con trống và con mái.



Chước đâu rẽ thuý chia uyên,

Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.

(Truyện Kiều).



THUỲ Y 

Rủ áo, tức ở ngôi không làm gì cả, ý muốn nói đường lối chính trị của vua hợp với lòng trời, lòng người nên thiên hạ được an trị.

Kinh dịch có câu: Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, thuỳ y thường nhi thiên hạ trị  , , , nghĩa là Hoàng Đế và Nghiêu, Thuấn rủ áo mà thiên hạ được thái bình.

Thánh tông miếu hiệu tôn vì,

Con là Trần Cẩm thuỳ y cửu trùng.

(Thiên Nam Ngữ Lục).



THUỲ LIÊM 

Buông rèm, do câu “Thuỳ liêm thính chính  ”, tức là buông rèm để nghe bàn việc nước.

Các bà Hoàng hậu mỗi khi tham dự việc triều chính thường phải bỏ rèm xuống. ngày xưa vua Cao Tông lâm triều, bà Võ hậu (Mẹ vua) bỏ rèm xuống để ngồi sau nghe bàn việc nước.

Về sau, khi vua còn nhỏ, phải nhờ bà Thái hậu chấp chánh thì gọi là “Thuỳ liêm”.



Thảy đem ưng dạ triều thần,

Thuỳ liêm vậy phải trao phân tiếng vàng.

(Hạnh Thục Ca).



THUỶ CHUNG 

Thuỷ: Lúc đầu. Chung: Lúc cuối.

Thuỷ chung là việc có trước có sau, như các đối xử trước sau như một, không có thay đổi.



Hay đâu bạc phước vô duyên,

Phận làm đệ tử chẳng tuyền thủy chung.

(Hứa Sử Tân Truyện).



Yêu mến một lòng đây rõ biết,

Thỉ chung đâu để hổ cùng lời.

(Đạo Sử).



Hoặc là tròn nghĩa thủy chung,

Hoặc là chia dạ não nùng với con.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THUỶ ĐẠO 

Thuỷ: Nước. Đạo: Con đường.

Thuỷ đạo tức là lấy sông ngòi làm đường đi. Nói cách khác, đi đường thuyền hay đường thuỷ.



Từ khi thầy tớ xuống thuyền,

Thuận dòng thuỷ đạo tới miền Nghi Trưng.

(Nhị Độ Mai).



THUỶ ĐÌNH 

Thuỷ: Nước. Đình: Cái đình hay nhà nghỉ.

Thuỷ đình là cái đình được làm dưới nước hay bên bờ sông.



Thuỷ đình ngã bóng om om,

Rút đường khúc kỉnh qua chòm tàng xuân.

(Hoa Tiên Truyện).



THUỶ TÚ SƠN KỲ 

Thuỷ tú: Dòng sông đẹp đẽ. Sơn kỳ: núi non kỳ vỹ.

Thuỷ tú sơn kỳ là chỉ phong cảnh núi sông kỳ lạ và đẹp đẽ.



Trải qua thuỷ tú sơn kỳ,

Phỉ lòng cá nhảy, gặp thì rồng bay.

(Lục Vân Tiên).



Ngày xuân con én trì trì,

Tưởng câu thủy tú, sơn kỳ thêm vui.

(Dương Từ Hà Mậu).



THUỶ TRIỀU 

Thuỷ: Nước. Triều: Con nước ở sông, ở biển khi lên khi xuống.

Thủy triều là con nước ở sông hay biển khi lên khi xuống, mỗi ngày đêm hai lần. Hiện tượng này có được là do bởi sức hút của mặt trăng và mặt trời. Người bình dân thường gọi là con nước lớn ròng.



Thủy triều vận tải biển đông,

Lòng hằng dường ấy phước đồng ăn chay.

(Kinh Sám Hối).



THUỴ ÁI 

Thuỵ: Điềm tốt lành. Ái: Bóng ráng trên không.

Thuỵ ái là nói bóng ráng đẹp đẽ tỏ điềm tốt lành.



Thảnh thơi thay chốn thiên tân,

Ứng điềm thuỵ ái đượm nhuần hòa phong.

(Lưu Nữ Tướng).



THUỴ VŨ 

Thuỵ: Điềm lành. : Mưa.

Thuỵ vũ là cơn mưa ứng với điềm lành, như mồng một tết có mưa, là mưa ứng với điềm lành được mùa.

Thuỵ vũ dùng để chỉ ơn mưa mốc của vua ban xuống cho các cung nhân.

Chồi thược dược mơ mòng thuỵ vũ,

Đóa hải đường thức ngủ xuân tiêu.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



THUYỀN BÁCH 

Hay “Thuyền bá”.

Bởi chữ “Bách châu  ” là chiếc thuyền làm bằng gỗ bá hay bách.

Do điển Bà Cộng Khương, vợ của Vệ Thái tử, sau khi Thái tử chết, thủ tiết không chịu tái giá. Cha mẹ bà cố ép vẫn không chịu và làm bài thơ “Bách châu  ” để tự răn mình.

Xem: Bách châu.

Kết làm phu phụ chi tình,

Chẳng lo thuyền bách lênh đênh giữa nguồn.

(Truyện Trinh Thử).



Rủi ro khi rã phím tơ đồng,

đình thuyền bá thà cam một lẻ.

(Tử Tế Mẫu Văn).



Bởi thuyền bá sóng xao biển ái,

Bởi non thề sương trải lạnh lùng.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THUYỀN BÁT NHÃ

Thuyền: Chiếc thuyền. Bát Nhã: Dịch âm chữ Phạn Prajna, nghĩa là trí tuệ.

Thuyền bát nhã tức là lấy trí tuệ sáng suốt của Phật, đó là Phật pháp để làm con thuyền đưa qua khỏi biển khổ để đến bên kia bờ “Giác ngạn”.



Đã rằng nương dấu Thích Ca,

Nào thuyền Bát nhã vượt qua ải hồ.

(Tư Dung Vãn).



Hứng giọt Ma Ha lau tục luỵ,

Ngừa thuyền Bát nhã thoát mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



Trương thẳng cánh con thuyền Bát nhã,

Cổi đau thương giải quả trừ khiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).



Ngồi thuyền Bát nhã qua tình biển,

Mượn nước nhành dương rưới lửa lòng.

(Đạo Sử).



THUYỀN HỌ TRƯƠNG

Tức thuyền của Trương Khiên , người đời Hán. Ông được lệnh của vua Hán Võ Đế, đáp thuyền đi sứ Nhục Chi, qua đất Hung Nô, bị bắt giữ lại hơn mười năm. Sau ông đánh bại Hung Nô, lập nên công lớn, được phong làm Bác Vọng Hầu.

Xem: Trương Khiên.

Thuyền họ Trương ở khô, còn sợ sóng tràn bờ;

Đất nhà Kỷ vốn hẹp, hãy sợ trời sập mái.

(Sãi Vãi).



THUYỀN HUỆ

Thuyền: Một vật dùng để đi và chuyên chở theo đường thuỷ. Huệ: Hay tuệ là sự sáng suốt thông hiểu rốt ráo đạo lý.

Thuyền huệ là chiếc thuyền trí huệ, còn gọi là thuyền bát nhã. Theo Phật, trí huệ được ví như con thuyền chở chúng sanh vượt qua biển luân hồi sinh tử sang đến bờ Niết Bàn giải thoát.



Mảnh thân xin gởi bấy chừ,

Nương theo thuyền huệ vào bờ Tương giang.

(Nữ Trung Tùng Phận).



Tiếng chuông thức giấc huỳnh lương,

Toan nương thuyền huệ vào đường vĩnh sanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THUYỀN LAN 

Thuyền làm bằng gỗ mộc lan.

Cây mộc lan là thứ cây cao lớn, là hình quả trứng. Hoa bên ngoài sắc tím đậm, bên trong tím lợt. Mé sông Tầm Dương có rất nhiều cây mộc lan, do ngày xưa vua Ngô Hạp Lư trồng để lấy gỗ làm cung điện. Cây mộc lan thường được ông Lỗ Ban đẽo làm thuyền, nên người sau hay gọi là “Thuyền lan”.

Xem: Lan chu.



Lĩnh lời sắp gánh giục đồng,

Thuyền lan một lá xuôi dòng thênh thênh.

(Hoa Tiên Truyện).



Thuyền lan mấy mái chèo đua,

Một dây thẳng tới bến chùa bước lên.

(Hương Sơn Hành Trình).



Rút dây vâng mệnh phụ hoàng,

Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy.

(Ai Tư Vãn).



THUYỀN NAN

Thuyền nan là loại thuyền nhỏ, mỏng manh, được đương bằng nan tre, chỉ dùng để đi gần bờ. Trong văn chương, chữ “Thuyền nan” thường dùng để ví với thân phận của người đàn bà.



Thuyền nan một chiếc ở đời,

Tắm mưa trải gíó trong vời Hàn giang.

(Lục Vân Tiên).



Thuyền nan sợ sóng dòng khơi,

Khúc quanh co hẹp, chiều thời khúc quanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THUYỀN QUYÊN 

Thuyền quyên chỉ người đàn bà, con gái có dáng đẹp đẽ dễ thương. Thường dùng để nói về người con gái xinh xắn, dịu dàng.



Thân này uốn éo vì duyên,

Cũng cam một tiếng thuyền quyên với đời.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



Chiều thanh vẻ lịch càng nồng,

Thuyền quyên đương mặt, anh hùng nát gan.

(Hoa Tiên Truyện).



Thiệt thòi cam phận thuyền quyên,

Chứa chan giọt lệ cửu tuyền cuộn trôi.

(Kinh Thế Đạo).



Bởi rẻ rúng thuyền quyên thiếu học,

Dầu chí thân tơ tóc cũng khi.

(Nữ Trung Tùng Phận).



Lấy thân rửa thảm lau phiền,

Đem công chuộc khách thuyền quyên lụy tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THUYỀN TÌNH

1.- Dịch từ chữ “Tình chu  ” là chiếc thuyền chở tình yêu đôi nam nữ

Đường Thi có câu: Nhất phiến tình chu dĩ đáo ngạn, bình trầm hoa chiết dĩ đa thời  , , nghĩa là một chiếc thuyền tình vừa tới bờ, cái bình đã chìm cành hoa đã gãy từ bao giờ.

Thuyền tình vừa ghé tới nơi,

Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ.

(Truyện Kiều).



Thuyền tình chịu sóng không kham,

Xin cho phận thiếp biến làm ni cô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Thuyền tình là chiếc thuyền của tình yêu thương, tình bác ái, thuyền từ bi để cứu vớt chúng sanh đang chìm đắm nơi bể khổ.

Tâm ẩn ái giúp Chí Linh,

Biển mê chèo chiếc thuyền tình độ nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THUYỀN TỪ 

Thuyền: Chiếc thuyền. Từ: Tức từ bi, lòng thương yêu chúng sanh.

Thuyền từ do chữ “Từ hàng  ” là chiếc thuyền từ bi (Hoặc bè từ) của Đức Phật, dùng để chở người đầy đủ phước đức vượt qua khỏi sông mê để đến bờ giác.



Thuyền từ sông lệ buồm trương cánh,

Cảnh trí rừng thung khách lướt đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



Dòng bích thuyền từ còn đợi bến,

Thu qua gặp gió cánh buồm trương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



THUYỀN VU 

Đọc đúng theo nguyên âm là “Đơn Vu”, nhưng người xưa thường đọc là “Thuyền Vu”.

Thiền vu là tiếng dùng để chỉ vị Chúa Hung Nô.

Máu Thuyền Vu, quắc Nhục Chi,

Ấy thì bữa uống, ấy thì bữa ăn.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



THUYẾT HÀNG 

Thuyết: Dùng lời để thu phục người. Hàng: Chịu phục tùng.

Thuyết hàng là đem điều hay lẽ phải ra nói đầu hàng, thôi hẳn việc chiến tranh.



Đóng quân làm chước chiêu an,

Ngọc vàng gấm vóc sai quan thuyết hàng.

(Truyện Kiều).



THUYẾT PHÁP 

Thuyết: Dùng lời để thu phục người. Pháp: Giáo pháp của tôn giáo.

Thuyết pháp là giảng giải giáo pháp của một tôn giáo, bao gồm thuyết giáo lý, thuyết kinh luật, thuyết đạo đức…



Dìu đời với sức không kham,

Mượn quyền thuyết pháp đặng làm cơ quan.

(Kinh Thế Đạo).



THUNG DUNG 

Hay “Thong dong”.

Thung dung hay thong dong dùng để chỉ sự thong thả, nhàn hạ.

1.- Thung dung:



Thung dung quan mới ướm lòng,

Khen rằng: Tuyết sạch, giá trong thực là.

(Hoa Tiên Truyện).



Cầm đường ngày tháng thung dung,

Tên ngay là tiết, nước trong ấy lòng.

(Nhị Độ Mai).



Kinh luân đã sẵn trong tay,

Thung dung dưới thế, vui say trong trời.

(Lục Vân Tiên).



Thung dung quân tử hảo cừu,

Năm thê bảy thiếp mặc dầu trăng hoa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Thong dong:

Việc nhà đã tạm thong dong,

Tinh kỳ giục giã đã mong độ về.

(Truyện Kiều).



Thong dong cõi thọ nương hồn,

Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa.

(Kinh Thế Đạo).



Thương thân chồng chẳng đặng thong dong,

Nuôi con vợ đủ dùng tay chẳng nghỉ.

(Phương Tu Đại Đạo).



THUỘC TUỲ 

Thuộc: Phụ vào. Tuỳ: Đi theo.

Thuộc tuỳ là những người đi theo để phụ việc, hay các tuỳ tướng, thuộc hạ.



Lệnh trao ruổi phát tức thì,

Tinh binh mười vạn thuộc tuỳ trăm viên.

(Hoa Tiên Truyện).



THƯ CÁ

Trích từ chữ “Tin chim thư cá”, tức là nhờ chim gửi tin, nhờ cá đưa thư.

Thư cá là viết thư bỏ vào bụng cá để gửi đi. Ý chỉ về tin tức.

Tin chim thư cá gửi đi,

Cũng nhiều nơi rắp nơi vì riêng tây.

(Truyện Trinh Thử).



THƯ CẦM 

Thư: Sách vở. Cầm: Đàn.

Thư cầm là sách và đàn, chỉ các thư sinh hoặc các văn nhân ngày xưa hay đọc sách và gảy đàn.



Người khuê các khách thư cầm,

Ngoài đành đãi ngọc, trong đành tựa mai.

(Nhị Độ Mai).



THƯ CƯU 

Hay “Thơ cưu” là tên một loài chim nước thường bắt cá để ăn, tương truyền biết phân biệt nghĩa vợ chồng. Do câu trong Kinh Thi chép: Quan quan thư cưu, Tại hà chi châu. , , nghĩa là quan quan kìa tiếng thư cưu, Bên cồn hót hoạ cùng nhau vang vầy, ý chỉ vợ chồng hoà đôi.

Xem: Quan thư.

Trước mai chẳng hiệp nghĩa thơ cưu,

Mấy kiếp vì chưa trả hết thù.

(Đạo Sử).



THƯ ĐÀN

Hay “Thơ đàn”.

Bởi chữ “Thư cầm  ” là chỉ sách và đàn để nói việc đọc sách và gảy đàn của các thư sinh hoặc các văn nhân ngày xưa. Xem: Thư cầm.

Bờ dương chừ đặng phong trần rảnh,

Quảy gánh thơ đàn dạo bốn phương.

(Đạo Sử).



THƯ HIÊN 

Thư: Sách vở. Hiên: Cửa sổ hay nhà cầu.

Thư hiên là hiên đọc sách, tức ngồi nơi cửa sổ hoặc nhà cầu để đọc sách.



Sánh vai về chốn thư hiên,

Góp lời phong nguyệt, nặng nguyền non sông.

(Truyện Kiều).



Mua về treo chốn thư hiên,

Như ai đem ngọc giải phiền lại cho.

(Bích Câu Kỳ Ngộ).



THƯ HÙNG 

Thư: Mái. Hùng: Trống. Thư hùng là trống và mái, tiếng dùng để chỉ riêng về loài có cánh, chim trống là hùng, chim mái chỉ thư.

Thư hùng còn dùng để chỉ nữ và nam.



Ước gì biến dịch thư hùng,

Một trai một gái vợ chồng đẹp đôi.

(Nữ Tú Tài).



Gươm thư giúp sức gươm hùng,

Điểm tô nghiệp cả con Rồng cháu Tiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THƯ HÙNG KIẾM 

Sách Ngô Địa Chí có chép: Can Tương ngày xưa có đúc hai thanh kiếm cho vua Ngô, một cây kiếm trống, tên là Can tương và một cây kiếm mái, tên Mạc dagọi chung là Thư hùng kiếm. Nhưng Can Tương chỉ dâng thanh hùng kiếm, còn giấu thanh thư kiếm. Thanh thư kiếm còn lại thỉnh thoảng réo lên những tiếng đau thương.

Có bản khác chép gươm trống là Long Tuyền kiếm, gươm mái là Thái A kiếm.

Xem: Can Tương.



THƯ HƯƠNG 

Thư: Sách vở. Hương: Ở đây, chỉ khói hương truyền từ đời này qua đời khác.

Thư hương nghĩa rộng là chỉ dòng dõi học trò hay nhà Nho.



Nghĩ rằng cũng mạch thư hương,

Hỏi ra mới biết rằng chàng sở khanh.

(Truyện Kiều).



Sao cho giữ được chữ trung,

Mới là hiếu tử nối dòng thư hương.

(Nhị Độ Mai).



Rồi ra luyện tập văn chương,

Cách nào rạng dấu thư hương mặc lòng.

(Hoa Tiên Truyện).

 

THƯ TRAI 

Thư: Sách. Trai: Nhà riêng để đọc sách.

Thư trai là một cái nhà riêng dành cho học sinh hay các văn sĩ đọc sách, viết văn.



Thiền trà cạn chén hồng mai,

Thong dong nối gót thư trai cùng về.

(Truyện Kiều).



Riêng mình chàng, một thư trai,

Đồ cung cấp hậu, vẻ bài trí thanh.

(Nhị Độ Mai).



Trước đèn trong chốn thư trai,

Não lòng đất khách ngậm ngùi người xưa.

(Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm).



THƯ TRUYỆN HUÊ TÌNH

Hay “Thơ truyện huê tình”.



Thơ truyện: Hay thư truyện , tức là sách và truyện. Huê tình: Hay hoa tình chuyện tình yêu lãng mạn giữa nam nữ.

Thơ truyện huê tình là những loại sách truyện nói về chuyện trăng hoa nhãm nhí.



Các thơ truyện huê tình xé hủy,

Kẻo để đời làm lụy luân thường

(Kinh Sám Hối).



THƯ TRUNG 

Thư: Sách. Trung: Trong.

Người xưa muốn các học trò siêng năng đọc sách nên thường có những câu như “Thư trung hữu cốc ” tức là trong sách có lúa, hoặc “Thư trung hữu nữ kỳ nhan như ngọc ” nghĩa là trong sách có gái, mặt đẹp như ngọc. Những lời đó hàm ý khuyên cố gắng đọc sách thì sẽ được giàu có hay vợ đẹp. Xem: Thư Trung có ngọc nhan.



Vả người là đấng thư trung,

Tấc mây đâu nỡ để lồng gương thu.

(Truyện Phan Trần).



THƯ TRUNG CÓ GÁI

Thư trung có gái tức là trong sách có gái đẹp, gương mặt như ngọc.

Trong sách Nho ngày xưa có câu: Thư trung hữu nữ nhan như ngọc  , tức là trong sách có gái, mặt đẹp như ngọc nhằm khuyến khích người ta ham đọc sách. Nếu có chí, siêng năng đọc sách ắt thành đạt thì sau này sẽ tìm được người vợ đẹp.

Xem: Thư trung có ngọc nhan.



Thư trung có gái tuyệt vời,

Những người mặt ngọc là người vẻ vang.

(Gia Huấn Ca).



THƯ TRUNG CÓ NGỌC NHAN

Bởi câu “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc  ” tức là trong sách có gái mặt đẹp như ngọc.

Sách Liêu Trai Chí Dị có chép: Xưa có một thư sinh tên là Lang Ngọc Trụ, ở Bành Thành rất ham mê đọc sách. Lúc thân phụ anh còn sống có viết một bài khuyến học dán ở thư phòng có câu: Thú thê mạc hận vô lương môi, thư trung hữu nữ nhan như ngọc  , , nghĩa là lấy vợ đừng hiềm không mối giỏi, trong sách có gái mặt đẹp như ngọc. Vào một đêm khuya, Ngọc Trụ đang mải mê đọc bộ Hán Thư thì thoáng thấy một hình mỹ nhân trong sách. Chàng giật mình, nghĩ bụng chắc cô gái đẹp trong sách là đây. Quả thật, nàng hiển hiện ra thành một tuyệt thế giai nhân, từ từ bước xuống.

Ngọc Trụ hỏi, nàng giai nhân trả lời: Thiếp họ Nhan tên Như Ngọc, vốn biết chàng đã từ lâu rồi, và cũng đã được chàng để ý đến. Nếu thiếp không đến gặp chàng thì e rằng sau này người ta không tin lời cổ nhân nói nữa! Ngọc Trụ mừng lắm bèn cùng Như Ngọc kết làm vợ chồng.



Thư trung dành có ngọc nhan,

Sách đèn còn bận buông màn Đổng Xuyên.

(Quan Âm Thị Kính).



THỨ DUNG 

Thứ: Rộng rãi độ lượng. Dung: Bao bọc.

Thứ dung, như chữ dung thứ là bao bọc, rộng lượng đối với người.



Thứ dung mấy lượt Phật Trời thương,

Cứ thói lung lăng chẳng kính nhường.

(Đạo Sử).



THỬ BÌ 

Thử: Con chuột. : Da.

Bài “Tương thử” trong Kinh Thi chê hạng người không lễ giáo, coi họ như con vật người, mong cho chết đi để người khỏi tai vạ: Tương thử hữu bì. Nhân nhi vô nghi, bất tử hà vi  , . , , nghĩa là nhìn xem con chuột còn có bộ da, kẻ mà không uy nghi trang nghiêm cho xứng con người, chẳng chết đi còn sống làm gì? Ý nói con chuột còn có da, ví như con người ta cần phải có lễ nghĩa.



Bởi phận làm thập nhị chi,

Trong Kinh ghi dạy thử bì còn gương.

(Truyện Trinh Thử).



THƯA HỒNG RẬM LỤC

Do câu: Lục ám hồng hy xuân khứ dã  , nghĩa là màu xanh đã nhiều, màu hồng đã thưa, tức mùa xuân đã đi qua rồi vậy. Đây có ý nói cuối mùa xuân sang mùa hè.

Thưa hồng rậm lục là màu hồng đã thưa, màu xanh đã đậm, ý chỉ mùa xuân sắp hết qua dần mùa hè.

Lần lần ngày gió đêm trăng,

Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.

(Truyện Kiều).



THỪA DƯ  輿

Thừa dư là xe của vua. Cũng dùng để chỉ vua.

Mạnh Tử có câu: Kim thừa dư dĩ giá hỹ  輿 , tức là nay xe vua đã đóng ngựa rồi. Câu này Chu Hy chú chữ “Thừa dư” là xe của vua. Bởi vì vua là bậc chí tôn, không dám xúc phạm đến tên huý, nên phải mượn “Thừa dư” (Xe vua đi) để gọi vua.

Thừa dư vừa đến thuý đường,

Kẻ về tấu trập người sang đầu thành.

(Quốc Sử Diễn Ca).



THỪA HOAN 

Thừa: Nhận lấy. Hoan: Vui vẻ.

Thừa hoan là thuận theo ý vui của cha mẹ hoặc vui vẻ để phụng dưỡng cha mẹ.



Sớm trưa tất dạ thừa hoan,

Song thần em hãy tỉnh khan giữ gìn.

(Song Tinh Bất Dạ).



Tòng phu nếu đã từ gia,

Thừa hoan như lúc ở nhà được đâu?

(Quan Âm Thị Kính).



THỪA LONG 

Thừa long là cỡi rồng, chỉ sự chọn lựa được người chồng quý.

Sở Quốc Tiền Hiên Truyện chép: Hai người con gái của Thái uý Hoàng Yên gả cho Hoàng Yến và Lý Quảng, người đương thời gọi hai cô gái ấy đã cỡi rồng.

Thừa long hay cỡi rồng còn dùng để chỉ vua thăng hà, sau chỉ chung người chết.

Xem: Cưỡi rồng.

1.- Chỉ việc lấy chồng quý:



Gần xa nức tiếng cung trang,

Thừa long ai kẻ đông sàng sánh vai.

(Quốc Sử Diễn Ca).



Lẽ đâu giám kẻ giường đông,

Tước bình xin đợi thừa long xứng tài.

(Sơ Kính Tân Trang).

2.- Chỉ người chết:

Trụ nguyên tánh hồn linh nhàn lạc,

Cõi Đào nguyên cỡi hạc thừa long.

(Kinh Thế Đạo).



THỨC TỈNH

Thức: Nhận biết. Tỉnh: Không mê.

Nhờ tác nhân mà bừng tỉnh ra, mới biết rõ mọi sự việc, không còn bị mê muội nữa, gọi là thức tỉnh (Hay tỉnh thức).



Ngày về thức tỉnh trời trưa sớm,

Non rạng an vui cảnh bá tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



Nhắn nhủ phồn hoa mau thức tỉnh,

Lần lừa bỏ quá kiếp xuân thời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



Gót nhân ái đến nhà kẻ bịnh,

Giọng từ bi thức tỉnh hung tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THỰC MIÊU 

Thực miêu là cắn phá lúa, chỉ người làm quan lo đục khoét của dân như loài chuột.

Bài “Thạc thử” trong Quốc phong của Kinh Thi công kích người cầm đầu nước Nguỵ chỉ lo đục khoét của dân như những con chuột, dân không chịu nổi phải bỏ làng đi nơi khác. Bài Kinh Thi có câu: Thạc thử , thạc thử, vô thực ngã miêu  , , , tức là con chuột to kia, con chuột to kia, đừng phá lúa ta.

Thơ quốc phong để chữ thực miêu.

Vì miệng ai cho nên dân xa làng bỏ đất?

(Nguyễn Đình chiểu).



THƯỚC CƯU 

Thước: Chim thước, tức là chim khách. Cưu: chim cưu, một loài chim vụng về trong việc xây tổ.

Kinh thi có câu: Duy thước hữu sào, duy cưu cư chi  , , nghĩa là chim thước có tổ, chim cưu đến ở, ý nói chim cưu không biết làm tổ, chờ chim thước làm tổ xong rồi đến ở.

Chim thước ví với người vợ lớn, xây dựng sẵn gia đình, vợ nhỏ vào ở.

Xem : Cưu cư.



Hơn chi giành én giựt anh,

Thước cưu khuất bóng dựa cành chung nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).



THƯỚC GƯƠM

Do chữ “Tam xích  ” là ba thước dùng để chỉ cây gươm.

Hán Thư chép lời Hán Cao Tổ nói: Ngô dĩ bố y đề tam xích thủ thiên hạ  , , ta mặc áo vải cầm gươm (Tam xích) mà lấy được thiên hạ.

Ba thước là chỉ thanh gươm dài ba thước.



Thành liền mong tiến bệ rồng,

Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



THƯỚC KIỀU 

Thước: Chim quạ. Kiều: Chiếc cầu.

Thước kiều là cầu ô thước, tức là cầu do chim quạ đen bắc để Ngưu Lang Chức Nữ qua sông Ngân gặp gỡ nhau trong đêm thất tịch (Mồng 7 tháng 7).

Xem: Ngưu Nữ.

Nỗi riêng nhớ ít tưởng nhiều,

Cậy ai về nẻo thước kiều báo tin.

(Tự Tình Khúc).



Đà nên lót bắc thước kiều,

Dựng bình xạ tước, sớm chiêu anh tài.

(Dương Từ Hà Mậu).



THƯỢC DƯỢC 

Thược dược là một loại hoa đẹp, nhiều màu sắc, hồng, trắng và tía. Thược dược giống hoa mẫu đơn mà ít cánh hơn, có tên riêng là hoa tướng, tức là Tể tướng của loài hoa.



Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ,

Đóa hải đường thức ngủ xuân tiêu.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



Má hồng môi thắm hây hây,

Khổ mê thược dược, thức say hải đường.

(Sơ Kính Tân Trang).



THƯƠNG CẨU 

Thương cẩu là chó xanh. Do chữ “Bạch vân thương cẩu  ”, tức là mây trắng biến thành chó xanh. Dùng để chỉ sự vật thay đổi không thường, hoặc chỉ biến cố xảy ra.

Đỗ Phủ có câu: Thiên thượng phù vân như bạch y, tu du hốt biến vi thương cẩu  , , nghĩa là trên trời mây nổi như áo trắng, phút chốc biến thành chó xanh.

Thiếp nay ở mé đông lân,

Vì cơ thương cẩu lang quân tách ngàn.

(Truyện Trinh Thử).



Quá ngán nhẽ, cửa bạch câu một loáng,

Ngậm ngùi thay, tranh thương cẩu trăm hình.

(Tần Cung Nữ).



THƯƠNG CỔ 

Thương: Đi đây đi đó để buôn bán. Cổ: Ngồi một nơi để buôn bán.

Thương cổ nói chung chỉ sự mua bán, nhà buôn.



Ấy là thương cổ chi giao,

Chi lan chi nghị, thế nào biết không.

(Thanh Hoá Quan Phong).



THƯƠNG CHU 

Hay “Thương Châu” là hai triều đại mà nhân dân được an cư và lạc nghiệp.

Vua Thành Thang đem quân đi đánh và bắt đày vua Kiệt, phế nhà Hạ, lên ngôi dựng quốc hiệu nhà Thương.

Vua Văn Vương tên Cơ Xương, là một chư hầu của vua Trụ, làm tây bá dựng nước ở chân núi Kỳ Sơn, thuộc tỉnh Thiểm Tây. Sau con là Võ Vương diệt Trụ, lập nên nhà Chu (Châu).



Mừng nay mưa nắng thuận trời,

Trị đời Ngu, Hạ, dân đời Thương Chu.

(Thanh Hoá Quan Phong).



THƯƠNG HẢI TANG ĐIỀN 

Thương hải tang điền biển xanh hoá thành ruộng dâu, dịch sang Việt là bãi bể nương dâu.

Thần Tiên Truyện viết: Tam thập niên vi nhất biến, thương hải biến vi tang điền  , , nghĩa là ba mươi năm l