Friday, September 18, 2020

Điển tích - B

 

B

BA CÕI

Do chữ Tam Giới của nhà Phật, tức là chỉ ba cõi giới. Theo Phật Giáo, ba cõi giới đó là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

Theo tín ngưỡng dân gian thì cũng có ba cõi giới, đó là Thượng giới, Trung giới và Hạ giới.

Xem: Tam Giới.



Đủ đồ thập cúng sẵn bày,

Lòng đi ba cõi hương bay chín trời,

(Quan Âm Thị Kính).



Cộng ba cõi sáu phương tu tập,

Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi.

(Phật Nói Vu Lan).



BA ĐÀO 

Ba: Sóng nhỏ. Đào: Sóng lớn.

Ba đào là sóng nhỏ và sóng lớn. Nghĩa bóng: Chỉ cảnh cực khổ, vất vả.



Gặp cơn bình địa ba đào,

Vậy đem duyên chị buộc vào cho em.

(Truyện Kiều).



Rõ nỗi nhà thung gìn đức cả,

Nên toan tiếp trẻ khỏi ba đào.

(Đạo Sử).



BA ĐIỀU SỢ

Do chữ “Tam uý  ” là ba điều Đức Khổng Tử dạy người quân tử phải biết sợ.

Luận Ngữ viết: Quân tử hữu tam uý: Uý thiên mệnh, uý đại nhân, thánh nhân chi ngôn  : , , , nghĩa là người quân tử có ba điều kính sợ: Kính sợ mạng trời, kính sợ bậc đại nhân, tức là người có chức phận lớn, đức hạnh cao, kính sợ lời dạy của Thánh nhân.

Dương Quan Tây còn sợ có bốn hay;

Khổng Phu tử những dạy ba điều sợ.

(Sãi Vãi).



BA ĐÔNG

Có hai nghĩa:

1.- Chỉ ba tháng của mùa Đông. Sách Hán Thư có câu: Niên thập tam học thư, tam đông văn sử túc dụng  , , nghĩa là năm mười ba tuổi đi học, trong ba đông mà văn sử đủ dùng.

Vận bốn mùa mà nay đã có công,

Đêm dài bởi một thuở ba đông.

(Hồng Đức Quốc Âm).



Thoi đưa nấn ná ba đông,

Trải phần đông quí, sang chừng xuân qua.

(Nhị Độ Mai).

2.- Chỉ ba mùa đông, tức là ba năm, nghĩa giống như chữ ba xuân, ba thu.

Ngoài nghìn dặm chốc ba đông,

Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy.

(Truyện Kiều).



Thành sầu muôn trượng xây nên đợt,

Bể thảm ba đông chất chứa đầy.

(Lâm Tuyền Kỳ Ngộ).



BA ĐƯỜNG CÚC

Lấy nghĩa từ bài “Qui Khứ Lai Từ  ”.

Đào Tiềm, khi còn làm quan tại huyện Bành Trạch, được chẳng bao lâu, ông bèn xin về quê ở ẩn, làm bài từ nầy để tỏ chí mình, có câu: Tam kính tựu hoang tùng cúc do tồn  , , nghĩa là hãy còn ba đường tùng cúc đã bị bỏ hoang ở nơi quê hương.

Người đời sau dùng chữ “Ba đường cúc” để chỉ việc ẩn cư, hay cáo quan về làng.



Phong lưu mòn mỏi ba đường cúc,

Ngày tháng tiêu ma một bát chè.

(Quốc Âm Thi Tập).



BA GIỀNG

Bởi chữ “Tam cương  ” tức ba giềng mối quan hệ của đạo làm người, đó là: Đạo vua tôi, đạo cha con, đạo chồng vợ.

Xem: Tam cương.

Ba giềng chẳng đặng một phần,

Như vầy cũng tiếng là thân con người.

(Dương Từ Hà Mậu).



Chúa tôi cá nước duyên lành,

Ba giềng đạo cả nỡ đành phủi tay.

(Hứa Sử Tân Truyện).



Tu tâm sửa tánh ăn năn,

Ba giềng nắm chặt, năm hằng chớ lơi.

(Kinh Sám Hối).



Ba giềng với năm hằng khá đoán,

Hư nên đừng xao lãng chí nam nhi.

(Phương Tu Đại Đạo).



BA LƯỢC SÁU THAO

Bởi chữ “Tam lược lục thao  ”.



Ba lược: Tức sách Tam lược do Hoàng Thạch Công soạn. Sách này theo Sử Ký chép, Hoàng Thạch Công đã trao cho Thương Lương ở cầu Hạ Bì.

Sáu thao: Tức Lục thao, tên cuốn sách của Thái Công Vọng , tức Lữ Vọng là hiệu Khương Thượng, tự là Tử Nha đời Châu Võ Vương soạn, chia thành Văn thao, Võ thao, 
Long thao, Hổ thao, Báo thao và Khuyển thao.

Ba lược sáu thao tức là lược thao dùng để chỉ người giỏi về mưu kế binh pháp.

Xem: Tam lược lục thao.



Văn đhttps://hocday.com/thin-vn-quch-vn-ha-trong-thi-vn-nm-2011-li-ta/30102_html_6f264e0b.pngà khởi phụng đằng giao,

Võ thêm ba lược, sáu thao ai bì.

(Lục Vân Tiên).



BA MỐI

Tức là ba giềng mối trong đạo Nho dạy về sự quan hệ giữa vua tôi, cha con, chồng vợ cư xử nhau cho có đạo lý. Xem: Ba giềng.



Năm hằng ba mối làm đầu,

Cội tùng nhánh bách mặc dầu đông tây.

(Tư Dung Vãn).



Ấy rằng quang nhạc khí hôn,

Năm giềng ba mối rối dồn như tơ.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



Trai trung hiếu sửa trau ba mối,

Đừng buông lung lầm lỗi năm hằng

(Kinh Sám Hối).



BA MƯƠI SÁU CHƯỚC

Ba mươi sáu chước chỉ chung các mưu chước trong phép cầm binh.

Theo Nam Sử, Đàn Đạo Tế lãnh chức Chinh Nam Đại Tướng Quân đem binh đánh Nguỵ, bị vây ở đất Hà Nam. Đạo Tế phải phá vòng vây, bỏ áo giáp mà chạy. Vương Kính Tắc mới nói rằng: Đàn Công tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách  , nghĩa là ba mươi sáu chước của Đàn Công, chạy là chước hay hơn cả.

Thừa cơ lẻn bước ra đi,

Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn.

(Truyện Kiều).



Bàn thầm mọi lẽ thấp cao.

Ba mươi sáu chước chước nào là trên?

(Quan Âm Thị Kính).



BA NĂM BÚ MỚM

Bởi chữ “Tam niên nhũ bộ  ”, chỉ công lao nuôi nấng của người mẹ.

Khi còn mang thai thì chín tháng cưu mang, khi đã sinh con ra rồi, người mẹ còn phải lo ba năm cho bú mớm. Thật công lao khổ cực biết dường nào.

Ba năm bú mớm còn thơ,

Kể công cha mẹ biết cơ ngần nào.

(Gia Huấn Ca).



BA NĂM NHŨ BỘ

Nhũ 
: Vú. Bộ : Cho bú.

Ba năm nhũ bộ là ba năm cho bú mớm, chỉ công lao nuôi nấng khó nhọc của người mẹ trong khoảng thời gian đứa con còn đang bú mớm.

Xem: Ba năm bú mớm.

Thương thay chín chữ cù lao,

Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình.

(Lục Vân Tiên).



Ba năm nhũ bộ còn thơ,

Kể công cha mẹ biết cơ ngần nào.

(Gia Huấn Ca).



BA NGÃ NGƯỜI CHU KHÓC

Tức đường đi ba ngã khiến Dương Chu phải khóc.

Do chuyện người láng giềng của Dương Chu mất dê, phải nhờ nhiều người người đi tìm. Dương Chu hỏi tại sao chỉ có một con dê mất mà cần rất nhiều người đi tìm. Người mất dê nói vì đường lớn có nhiều rẽ , trong đường rẽ lại có nhiều đường rẽ nữa, không biết dê đi ngã nào. Dương Chu tự nhiên ôm mặt khóc. Câu chuyện này muốn nói: Gốc thì đồng, mà ngọn thì khác, vì vậy người đời cần thận trọng để khỏi nhầm.

Đường đi ba ngã người Chu khóc;

Tơ trắng hai màu gã Địch than,

(Dương Từ Hà Mậu).

BA QUÂN

Tức là ba đạo quân.

Ngày xưa, trong chế độ quân chủ, vua thì có sáu đạo quân (lục quân), chư hầu thì ba đạo quân (tam quân). Về sau, chữ “Ba quân” (Tam quân) dùng để gọi chung quân đội. Xem: Tam quân.

Ba quân chỉ ngọn cờ đào,

Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri.

(Truyện Kiều).



Trai khôn lấy vợ chợ đông,

Gái khôn lấy chồng giữa chốn ba quân.

(Ca Dao).



BA SINH

Hay “Ba sanh”.

Do chữ “Tam sinh  ” tức là duyên nợ ba kiếp sống gắn bó với nhau. Do câu trong Tình Sử: Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn  nghĩa là ba sinh đá ấy cựu tinh hồn, ý nói người có duyên số là có nợ nần với nhau thì viết lên hòn đá để kiếp này không trả được thì kiếp sau phải trả, đến ba kiếp mà không trả được mới thôi.

Xem: Tam sinh.

1.- Ba sinh:

Ba sinh đã nặng vì duyên,

Đem thân liễu yếu, kết nguyền đào thơ.

(Bích Câu Kỳ Ngộ).



Ba sinh hương hoả,

Cuộc trần hoàn nào mấy mặt tri âm.

Một phút nhàn du,

nghĩa giao tất dễ quên lòng quyến cố.

(Văn Tế Thuốc Phiện).

2.- Ba sanh:

Ba sanh dầu toại thửa nguyền,

Họa trong giấc mộng giải phiền giao hoan.

(Nữ Trung Tùng Phận).



Dầu phải nợ ba sanh hương lửa,

Kết bạn nhau phải lựa khách tâm đầu.

(Phương Tu Đại Đạo).



BA TẦNG CỬA VÕ

Bởi chữ “Võ môn tam cấp  ” là một khúc núi ở thượng du sông Trường Giang tỉnh Tứ Xuyên, bên Tàu. Ở dưới chân núi có vực sâu. Tương truyền đến mùa thu, cá đua nhau nhảy qua. Con nào nhảy khỏi thì hoá rồng, tức thi đậu.

Xem: Võ môn tâm cấp.

Công danh ai chẳng ước mơ,

Ba tầng cửa Võ một giờ nhảy qua.

(Lục Vân Tiên).



BA TIÊU 

Ba tiêu tức là cây chuối.



Đêm phong vũ lạnh lùng có một,

Giọt ba tiêu thánh thót cầm canh.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



Vườn thược dược thâu mòn cửa trúc,

Dãy ba tiêu chen chúc song hồ.

(Tự Tình Khúc).



BA THU

Ba mùa thu, tức ba năm. Do câu trong Kinh Thi: Nhất nhật bất kiến như tam thu hề  , tức là một ngày không trông thấy mặt lâu bằng ba mùa thu. Ý muốn nói thời quá dài lâu.



Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.

(Truyện Kiều).



BA VẠN SÁU NGÀN NGÀY

Tức một trăm năm, do câu trong Kinh Lễ: “Nhân thọ dĩ bách niên vi kỳ  ” nghĩa là đời sống của con người lấy trăm tuổi làm kỳ hạn.

Trăm năm, tức “Ba vạn sáu ngàn ngày” dùng để chỉ một đời người.

Nhân sinh ba vạn sáu ngàn ngày,

Coi những tỉnh, lúc say nào có mấy?

(Thơ Tản Đà).



Có thân giữa chốn đọa đày,

Đếm ba vạn sáu ngàn ngày khó khăn.

(Kinh Thế Đạo).



Đếm ba vạn sáu ngàn ngày,

Cõi Dương gian với cõi Tuyền đài gần nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BA XUÂN

1.- Ba tháng mùa xuân, chỉ tuổi thanh xuân.



Ở đời ai cậy ai giàu,

Ba xuân mòn hết ngàn vàng khôn mua.

(Lục Vân Tiên).

2.- Do chữ “Tam xuân huy  ”, nghĩa là ánh sáng của ba tháng xuân, do thơ của Mạnh Giao: Dục tương thốn thảo tâm, báo đáp tam xuân huy  , nghĩa là muốn đem tấc lòng cỏ để báo đáp ánh sáng của ba tháng xuân. Ý muốn nói con cái báo đáp ơn cha mẹ.

Hột mưa sá nghĩ phận hèn,

Liều đem tấc cỏ báo đền ba xuân.

(Truyện Kiều).



BÁ DI 

Anh của Thúc Tề, con vua nước Cô Trúc, không chịu làm vua, nhường ngôi lại cho em, em cũng không muốn làm vua, rồi sau cả hai vào ẩn dật ở núi Thú Dương, hái rau vi ăn mà sống.



Xem: Di Tề.

Bá Di người rặng thanh là thú,

Nhan Tử ta xem ngặt ấy lề.

(Quốc Âm Thi Tập)

BÁ DU KHẤP TRƯỢNG 

Bá Du bị đòn lại khóc.

Sách Hán Thư chép: Ông Hàn Bá Du là người rất có hiếu, có lỗi, bị mẹ đánh đòn, bỗng nhiên khóc rống lên. Bà mẹ nói: Trước kia đánh ngươi, chỉ nhận chịu, nay do đâu mà lại khóc? Bá Du thưa: Trước kia đánh đau, biết mẹ còn khoẻ mạnh, nên không khóc. Nay đánh không đau, biết mẹ sức đã yếu, nên con khóc.

Sách Ấu Học Quỳnh Lâm viết: Bá Du khấp trượng, nhân mẫu chi lão  Nghĩa là Bá Du bị đòn lại khóc, do sức mẹ đã già yếu.



BÁ ĐẠO 

Tên tự của Đặng Du, người đời Tấn. Khi Đặng Du giữ chức Thái thú đất Hà Đông, gặp năm có biến, vợ con và một đứa cháu (Con người em) chạy trốn. Giữa đường gặp cướp phải chạy sang sông, ông liệu không thể nào bảo toàn cả con lẫn cháu, mới nói với vợ: Em ta chỉ có một con, không thể để tuyệt giống, còn chúng ta có thể sinh con khác, vậy ta phải bỏ con lại và đem cháu đi.

Về sau ông được cử làm Thái thú Ngô Quận, nổi tiếng thanh liêm, rất được lòng dân, nhưng vợ ông hết sinh con được.

Lão rằng: Cầu Phật đặng con,

Xưa ngươi Bá Đạo sao còn lo sau?

(Dương Từ Hà Mậu).



BÁ LÝ HỀ 

Bá Lý Hề là người đời Xuân Thu, tự là Tỉnh Bá, lúc nhỏ nghèo khó, trôi nổi, ba mươi ngoài tuổi mới cưới Đỗ Thị làm vợ, sinh được một người con trai.

Sinh trưởng và lớn lên tại nước Ngu, không có người tiến cử, lại chưa gặp được thời, ông định châu lưu thiên hạ đặng kiếm chỗ làm quan, nhưng thấy nhà nghèo, vợ con không nơi nương tựa, nên con chần chờ, chưa dám quyết định.

Đỗ Thị là một người đàn bà thông minh, hiền đức, biết được ý của chồng, mới khuyên ông nên ra đi, chớ vì bận bịu vợ con mà bỏ việc công danh, rồi bắt gà làm bữa tiệc đãi chồng trước khi lên đường.

Trước nhứt, Bá Lý Hề qua Tề, định ra mắt Tương công, nhưng không người tiến dẫn, túi lại không tiền nên đành đi xin ăn nơi đất Chất.

Lúc ấy Bá Lý Hề đã được bốn mươi tuổi, kết nghĩa anh em với một người hiền ở Chất là Kiển Thúc và tạm ngụ tại nhà người ấy, hằng ngày phải đi giữ trâu cho Thúc để kiếm tiền độ nhựt.

Sau nghe bên nhà Châu có vị công tử tên là Vương Tử Đồi, tánh thích trâu và hậu đãi cho những kẻ nuôi trâu, Bá Lý Hề mới xin Kiển Thúc và từ giã để qua tìm Vương Tử Đồi. Kiển Thúc thấy Hề gặp cảnh khó, sợ gặp người không đáng thờ mà theo, nên dặn rằng: Phàm người trượng phu không nên vì vật chất mà đầu người, nhưng lỡ theo mà sau bỏ đi là người bất trung, còn cứ theo hoài để bị nạn là người bất trí. Vì vậy, em nên thận trọng lấy mình, sau anh em sẽ gặp lại.

Kiển Thúc sau nầy có qua Châu để gặp Vương Tử Đồi và thăm Bá Lý Hề, ông thấy Đồi là một người có chí lớn nhưng tài kém, dưới trướng là một bọn sàm nịnh, nên cho Đồi không làm được chuyện lớn, bèn khuyên Hề bỏ ra đi.

Bá Lý Hề nhân xa nhà lâu, muốn về đất Ngu để thăm lại vợ con. Kiển Thúc đồng ý cũng theo Hề đi cho có bạn. Khi đến nhà mới hay Đỗ Thị vì làm không đủ ăn nên đã lưu lạc xứ nào không ai biết. Còn Kiển Thúc nhờ người bạn là Cung Chi Kỳ giới thiệu Bá Lý Hề với Ngu Công, Hề được phong làm chức Trung Đại Phu. Kiển Thúc muốn về Tống, nên đến từ giã Hề và dặn rằng: Ngu Công là người hẹp kiến thức, không đáng phò, nhưng thấy em cùng khốn đã lâu, muốn tìm chỗ nương thân tạm. Sau nầy, em muốn tìm anh thì đến làng Minh Lộc nước Tống sẽ gặp lại.

Ngu Công vì không nghe lời can của Cung Chi Kỳ để cho nước Tấn mượn đất qua đánh Quắc, thắng Quắc rồi Tấn lại đánh Ngu, Ngu đành mất nước. Bá Lý Hề tự cho mình là người không trí há lại để mất trung nữa sao, nên ông vẫn theo hầu Ngu Công bị bắt về với nước Tấn.

Ở Tấn, Bá Lý Hề có lần mắng vị Đại Phu là Chu Chi Kiều, khiến hắn sinh tâm hãm hại. Nhân Tấn Công gã con cho Tần, Chu Chi Kiều mới tiến dẫn Hề làm người đưa dâu về Tần. Giữa đường, thừa lúc vắng người Bá Lý Hề mới trốn, lén qua đầu Sở. Mới tới Uyển Thành ông bị bọn thợ săn bắt về để chăn trâu. Ở đây, Hề nuôi trâu mập lại sinh sãn nhiều, chẳng bao lâu chuyện thấu tai đến Sở Vương. Sở Vương cho đòi Bá Lý Hề về chăn ngựa cho nhà vua ở Nam Hải.

Trong thư Tấn Hầu báo có Bá Lý Hề đưa dâu sang Tần, nhưng Tần Mục Công không thấy đến bèn hỏi Công Tử Chấp. Chấp nói: Bá Lý Hề là người tế thế, chắc Hề trốn qua Sở vì nghe đâu vợ Hề cũng đang ở Sở.

Tần Mục Công sai người qua Sở dò la mới hay Bá Lý Hề chăn ngựa cho Sở Hầu ở Nam Hải, bèn sai Công Tôn Chi dùng hậu lễ rước về. Công Tôn Chi can rằng: Sở Vương để Bá Lý Hề chăn ngựa là không biết người, nếu sai đem hậu lễ rước thì hoá ra ta cho Sở biết Bá Lý Hề là người hiền, chắc gì Sở cho Bá Lý Hề đi. Chi bằng mượn cớ trốn đưa dâu để bắt tội Bá Lý Hề mà chuộc về mới được. Quả nhiên rước được Bá Lý Hề về Tần để phong làm Thừa Tướng.

Vợ Bá Lý Hề may vá không đủ sống phải ra đi trôi nổi bềnh bồng nhiều năm mới sang Tần thì hay được Bá Lý Hề làm Thừa Tướng. Đỗ Thị thừa dịp trong phủ cần người may vá, mới xin vào làm. Ngày kia, trong phủ có đờn ca, Đỗ Thị xin nhạc công theo lên nhà khách để đàn ca giúp.

Bài của Đỗ Thị ca trong phủ như sau:

Bá Lý Hề, ngũ dương bì, ức biệt thì, phanh phục thư, xuân huỳnh phỉ, xuy diễm di. Kim nhựt phú quý, vong ngã vi?



Bá Lý Hề, ngũ dương bì, phụ lương nhục, tử đề ky, phu văn tú, thê hoãn y, ta hồ phú quý, vong ngã vi?

Bá Lý Hề, ngũ dương bì, tích chi nhựt quân hành nhi ngã đề, kim chi nhựt, quân toạ nhi ngã ly, ta hồ phú quý, vong ngã vi?”.

Nghĩa là: Bá Lý Hề, năm bộ da dê! Nhớ ngày nào cùng nhau ly biệt: Mổ gà mái ấp, chẻ cánh cửa làm củi, thổi nồi cơm gạo vàng... Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao?

Bá Lý Hề, năm bộ da dê! Cha ăn thịt cá, con đói khóc dài, chồng mặc áo gấm, vợ giặt thuê... Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao?

Bá Lý Hề, năm bộ da dê! Nhớ ngày xưa, tiễn chàng ra đi, thiếp nước mắt chứa chan, tới bây giờ thấy chàng ngồi đó, thiếp đứt ruột

Bá Lý Hề nghe ca thốt nhiên sửng sốt, cho kêu người đàn bà lại gần mà hỏi, thì quả nhiên là vợ mình, bèn ôm nhau khóc rống lên. Từ đó Bá Lý Hề mới sum hợp được vợ con và cùng hưởng phú quý.

Lập thân đừng để danh lưu,

Cũng như Bá Lý Hề âu bạc tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BÁ NHA 

Bá Nha là người rất giỏi đàn, làm quan đến chức Thượng Đại Phu, đời nhà Tống, kết bạn với Tử Kỳ là một tiều phu sành về âm luật, phân biệt được tiếng đàn. Sau Tử Kỳ chết, Bá Nha cho rằng không còn người tri âm nữa, nên đạp vỡ cây đàn, thề không đàn nữa.

Xem: Bá Nha Tử Kỳ.

Non gặp Bá Nha non mở mặt,

Nước mừng Tô Tử nước khoe màu.

(Thơ Huỳnh Mẫn Đạt).



BÁ NHA TỬ KỲ 

Bá Nha là người đời Tống, làm quan đến chức Thượng Đại Phu, biết đàn rất giỏi.

Một hôm đi sứ nước Sở về, gặp đêm trăng thanh gió mát, cập thuyền ở bờ sông Hàm Dương, cao hứng lấy đàn ra khảy. Lúc ấy có Tử Kỳ là một tiều phu đi đốn củi về, dừng chân lại nghe lén. Bá Nha đang đờn bỗng đứt dây, bèn sai người lên bờ bắt được Tử Kỳ đang đứng rình nghe. Chàng hỏi xuất xứ, Tử Kỳ trả lời: Nhân đi đốn củi, nghe tiếng đàn hay, đứng thưởng thức. Bá Nha không tin một gã tiều phu lại hiểu về âm nhạc, nên đàn một bản rồi hỏi Tử Kỳ biết được bản đó không. Tử Kỳ đáp: Bài Đức Khổng Tử thương tiếc Nhan Hồi.

Bá Nha bèn mời Tử Kỳ xuống thuyền, rồi nghĩ mình đang ở chốn non cao mà khảy một bản. Chung Tử Kỳ nghe xong khen rằng: Thật là hay. Chí của Ngài vọi vọi ở non cao!.Bá Nha lại khảy thêm một bản nữa, nghĩ mình đang ở trên nước. Chung Tử Kỳ lại khen: Hay! Chí của Ngài cuồn cuộn như nước chảy!.

Đêm đó hai người trò chuyện với nhau rất tâm đắc và trở thành đôi bạn tri âm. Bá Nha mời Tử Kỳ theo mình về Kinh đô sống chung, Tử Kỳ từ chối vì còn bà mẹ già đang phụng dưỡng, nhưng hẹn ngày nầy năm sau sẽ gặp tại nơi đây, rồi hai người biệt nhau.

Năm sau, Bá Nha đúng hẹn, nhưng đến nơi không thấy Tử Kỳ đâu, lấy đàn ra khảy, âm thanh nghe sầu buồn ai oán, Bá Nha sinh nghi, đợi sáng đi tìm mới hay Tử Kỳ đã chết rồi. Bá Nha đến mộ Tử Kỳ đàn một bài điếu hết sức bi thảm, rồi khóc mà đập vỡ cây đàn, thề không bao giờ đàn nữa.



Bá Nha đã gặp Tử Kỳ.

Bảo sơn ai nỡ trở về tay không.

(Truyện Trinh Thử).

BÁ NHẠC 

Bá Nhạc tức Tôn Dương, người đời Xuân Thu, rất giỏi nghề xem tướng ngựa. Ngày kia, ông đi qua nơi có ngựa kỳ ngựa ký đang kéo xe muối, trông thấy Bá Nhạc thì ngựa hý to lên. Bá Nhạc xuống xe nhìn ngựa mà khóc, rồi lại vỗ về, đám ngựa ra dáng hả hê, ngửa mặt lên trời mà hý, tiếng hý kêu thấu trời..



Mã Long tuấn gặp chàng Bá Nhạc,

Ngọc Kinh sơn gặp được Biện Hoà.

(Bần Nữ Thán).



Bà ngựa dầu lành nào Bá Nhạc,

Cái gươm nhẫn có thiếu Trương Hoa.

(Quốc Âm Thi Tập).



BÁ TỪNG HỔ MẶT.

Bá từng hổ mặt tức là Vương Bá từng hổ thẹn.

Đường Thư kỷ yếu chép: Vương Bá lúc hàn vi đến ở chùa Huệ Chiếu ở Dương châu, thường hay đi ăn chực, các sư lúc ấy ghét ông lắm. Sau 20 năm, Vương Bá làm quan ở Dương Châu, về thăm lại chùa, thấy những bài thơ của ông lúc trước viết trên tường được che bằng sa xanh.

Tín có thuở lượm tay Phiếu mẫu,

Bá từng phen hổ mặt Đồ lê.

(Thập Giới Cô Hồn).



BÁ TƯỚC 

: Một trong năm tước: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Tước: Một danh vị vua phong.

Bá tước là tước của vua phong cho các ông hoàng trong Hoàng tộc, hay những người có công trạng. Bá tước đứng vào hàng thứ ba, sau Công tước, Hầu tước và trước Tử tước, Nam tước.



Mượn bút nghiên khuây khoa vẻ thảm,

Những là Bá Tước gánh đồ thơ.

(Đạo Sử).



BÁ VƯƠNG 

: Nước chư hầu có quyền thống lĩnh các nước nhỏ, ở dưới vương. Vương: Vua.

Bá vương nói về người làm nên sự nghiệp to lớn, hùng trưởng.

Xem: Vương bá.

Ba thu gánh vác sơn hà,

Một là báo phục, hai là bá vương.

(Quốc Sử Diễn Ca).



Hồng châu Khúc Hạo hùng tài,

Gặp đời Thúc quý toan bài bá vương.

(Quốc Sử Diễn Ca).



BÀ KHƯƠNG CHỊU TỘI KHUYÊN CAN

Bà Khương Hậu lột trâm chịu tội lời khuyên can.

Liệt Nữ Truyện chép: Vua Tuyên Vương nhà Châu thường ngủ dậy rất trưa, bà Khương Hậu lột trâm, cởi hoa tai ngồi chờ tội ở cung Vĩnh Hạng (Vĩnh Hạng là một cái cung nhỏ hẹp ở phía sau cung Hoàng Hậu, dùng để giam cầm những Cung phi có tội). Rồi sai người tâu với vua rằng: Thiếp bất tài, làm cho quân vương vui sắc đẹp mà quên đức, sai lễ, thường dậy trưa. Tội ấy tại thiếp. Vua nói: Quả nhân không đức, chẳng phải tại phu nhân đâu. Vua từ đó bèn siêng năng việc cần chính. Người đời khen bà là bậc “Triết Hậu”.

Tuyên Vương trễ buổi triều mai,

Bà Khương chịu tội khéo lời khuyên can.

(Nữ Phạm Diễn Nghĩa).



BÁC ÁI 

Bác: Rộng rãi. Ái: Yêu thương.

Bác ái là tình yêu trải rộng không những đối với bà con thân thích mà với cả mọi người.



Lấy bác ái làm hòa vạn vật,

Đem thiện duyên xây nấc thang hồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BÁC ĐỒNG

Bác 
: Súng đại bác. Đồng : Chất đồng.

Bác đồng là một loại súng lớn (Đại bác) được chế bằng kim loại đồng.



Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,

Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân.

(Truyện Kiều).



Kéo cờ chiêu phủ tiên phong,

Lễ nghi dàn trước bác đồng phục sau.

(Truyện Kiều).



BÁC LÃM 

Bác: Rộng rãi. Lãm: Xem.

Đồng nghĩa với triển lãm. Bác lãm có nghĩa là cuộc trưng bày thi hoạ, hay các sản phẩm hoặc các thứ đồ về công kỹ nghệ.



Tính cha đã thông minh mẫn đạt,

Con chắc là bác lãm quần thi.

(Phương Tu Đại Đạo).



BẠC MỆNH 

Bạc: Mỏng, mong manh. Mệnh: Số mệnh. Bạc mệnh là mạng số mỏng manh, bạc bẽo.

Tô Thức có nói rằng: Tự cổ giai nhân đa bạc mệnh  , nghĩa là tự nghìn xưa giai nhân đều bạc mệnh.



Đau đớn thay phận đàn bà!

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

(Truyện Kiều).



Chữ bạc mệnh ai ơi thấu với,

Câu đa đoan trời hỡi thấu chăng?

(Tự Tình Khúc).



Chừng cơn phấn lợt hương tàn,

Núm mồ bạc mệnh bên đàng cỏ chôn.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BẠC NGHĨA 

Bạc: Mỏng. Nghĩa: Việc theo đường phải.

Bạc nghĩa tức là người ăn ở bạc bẽo, không giữ đạo lý, không có tình cảm. Như vợ chồng ăn ở với nhau không trọn đạo, gọi là bạc nghĩa.

Như chữ “Bạc tình  ”. Xem: Bạc tình.

Chàng đà bạc nghĩa thì thôi,

Dù chàng lên ngược về xuôi mặc lòng.

(Ca dao).



BẠC PHƯỚC 

Bạc: Mỏng, xấu. Phước: Những điều tốt đẹp do trời ban cho.

Bạc phước là phước mỏng hay xấu phước.



Hay đâu bạc phước vô duyên,

Phận làm đệ tử chẳng tuyền thủy chung.

(Hứa Sử Tân Truyện).



Càng bạc phước càng than con dại,

Lo tảo tần mảy mạy dưỡng nuôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).



Hỏi đon thử lời nguyền buổi trước,

Gẫm thân nàng bạc phước như ta.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BẠC TÌNH 

Bạc: Mỏng. NghĩaTình: Lòng yêu mến.

Bạc tình cũng như chữ bạc nghĩa, tức là nói người ăn ở bạc bẽo, không có tình cảm.

Xem: Bạc nghĩa.

Bạc tình, nổi tiếng lầu xanh,

Một tay chôn biết mấy cành phù dung!

(Truyện Kiều).



BÁCH CHÂU 

Hay “Bá châu”, tức là thuyền bách, một chiếc thuyền làm bằng gỗ bách.

Do tích: Vệ Thái Tử tên là Trung Bá chết, vợ là bà Cộng Khương ở vậy thủ tiết thờ chồng, không chịu tái giá. Cha mẹ nàng ép gã, nhưng nàng chẳng chịu bèn làm bài thơ tựa là Bá Châu (Thuyền bách) để tự ví mình như chiếc thuyền bằng cây bá, linh đinh giữa dòng mà không sợ sóng gió.

Trong văn chương, người ta dùng Bá châu hay thuyền bách để chỉ những người quả phụ.



Quản bao một chiếc bách châu,

Linh đinh trong vực, mặc dầu gió mưa.

(Dương Từ Hà Mậu).



BÁCH CHIẾN 

Bách: Trăm. Chiến:Đánh trận.

Bách chiến tức là nói người đã từng đánh trăm trận thắng. Hoặc người mãnh tướng đánh hằng trăm trận.

Nghĩa rộng: Chỉ người quen việc chinh chiến.

Tin tôi nên quá nghe lời,

Đem thân bách chiến làm tôi triều đình.

(Truyện Kiều).



BÁCH GIA CHƯ TỬ 

Bách gia: Trăm nhà. Chư Tử: Những bậc có đạo đức và học vấn thời xưa.

Bách gia chư tử là một thành ngữ dùng để gọi chung các bậc hiền triết thời cổ của Trung Hoa, như Tăng tử, Liệt tử, Mạnh tử…



Xem cho đến bách gia chư tử.

Bảy mươi hai pho sử đều thông.

(Gia Huấn Ca).



BÁCH LINH TƯƠNG HỰU 

Bách linh: Trăm đấng thần linh. Tương hựu: Phò trợ giúp đỡ.

Bách linh tương hựu là trăm đấng thần linh giúp rập, phù hộ cho.



Đế vương dương trợ âm phò,

Bách linh tương hựu lý cho phúc tường.

(Hạnh Thục Ca).



BÁCH NẠP 

Hay “Bá nạp  ”.

Bách nạp y là áo bá nạp, tức là một loại áo dùng nhiều miếng vải, đủ màu sắc kết lại với nhau mà thành để các nhà sư mặc.

Áo bá nạp ngụ ý chiếc áo do bá tánh mỗi người một mảnh vải kết lại thành để tăng sĩ mặc.

Xem Ca sa, áo ca sa.

Cây trăm thước đổi hương tàn,

Treo y bá nạp làm màn phòng the.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BÁCH NIÊN 

Bởi chữ “Bách niên giai lão  ”, tức là lời chúc vợ chồng ăn ở với nhau hoà hợp, sống lâu đến trăm tuổi.



Ngỡ là trọn đạo vu quy,

Lấy lời vàng đá mà thề bách niên.

(Truyện Kiều).



Chữ đồng lấy đấy làm ghi,

Mượn điều thất tịch mà thề bách niên.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



BẠCH BÍCH 

Bạch: Màu trắng. Bích: Ngọc.

Bạch bích là một loại ngọc bích màu trắng. Theo truyện cổ tích, Bạch bích cũng là một loại ngọc trồng được ở tại Lam Điền.

Xem: Cấy ngọc, hay Lam Điền chưởng ngọc.

Đã trồng bạch bích sẵn đây,

Còn chờ bói phượng chưa vầy bạn loan.

(Quan Âm Thị Kính).



BẠCH CÂU 

Bởi chữ “Bạch câu quá khích  ”.



Bạch câu: Ngựa trắng. Quá khích: Qua khe hở.

Bạch câu quá khích là bóng ngựa trắng chạy qua kẻ hở. Chỉ thời gian trôi qua mau.

Do câu nói của Trương Lưu Hầu: Nhân sinh nhất thế gian như bạch câu quá khích, hà chí tự khổ như thử  , , nghĩa là người ta sinh ra trong đời như bóng bạch câu qua khe hở, cần gì phải làm khổ mình đến như vậy?

Nghĩa bóng: Chỉ thời gian qua mau.



Kìa ai thích chí ngao du,

Nhà lan ngạch hở bạch câu nước dồn.

(Tư Dung Vãn).



Những là khen dạ đá gan vàng,

bóng bạch câu xem nữa phút như không,

ơn dày đội cũng cam trong phế phủ.

(Trận Vong Tướng Sĩ).



Quá ngán nhẽ, cửa bạch câu một loáng,

Ngậm ngùi thay, tranh thương cẩu trăm hình.

(Tần Cung Nữ).



BẠCH DIỆN THƯ SINH 

Bạch diện: Gương mặt trắng. Thư sinh: Học trò.

Bạch diện thư sinh là người học trò còn non nớt, chưa đủ kinh nghiệm.



Chớ tin bạch diện thư sinh.

Một văn luận thử mà khinh giá này.

(Truyện Trinh Thử).



Vậy có lời nôm dặn bảo thế gian rằng:

Đừng thấy người bạch diện thư sinh mà cười rằng:

Đa cùng tài tử”.



(Tài Tử Đa Cùng Phú).

BẠCH DƯƠNG 

Tên một loại cây cao to, lá tròn rộng, có răng cưa, bề mặt màu xanh, bề lưng màu trắng. Khi có gió nhẹ thổi qua, thì cây bạch dương cũng reo thành tiếng.



Đường bạch dương bóng chiều man mác,

Dịp đường lê lác đác sương sa,

(Thập Loại Chúng Sinh).



BẠCH ĐĂNG 

Hay “Bạch Thành  ”, một cái thành ở Thanh Hải mà vua Hán Cao Tổ bị rợ Hồ là Thổ Cốc Hồn vây tại nơi ấy.

Lý Bạch có câu: Hán hạ Bạch Đăng Thành, Hồ khuy Thanh Hải độ  , nghĩa là Hán xuống Bạch Đăng Thành, Hồ dòm bến Thanh Hải.

1.- Bạch Đăng:



Bạch Đăng quân Hán đóng đồn,

Vụng kia Thanh Hải dòm luôn mắt Hồ.

(Thơ Dịch, Tản Đà).

2.- Bạch Thành:

Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại,

Mai Hồ vào Thanh hải dòm qua.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



BẠCH ĐẰNG

Bạch Đằng là một con sông thuộc huyện Thuỵ Nguyên, tỉnh Kiến An bây giờ.

Hưng Đạo Vương sai Nguyễn Khoái lén dẫn binh lên mé thương lưu sông Bạch Đằng, dùng gỗ đẻo nhọn có bịt sắt đóng khắp giữa giòng sông, rồi phục binh chờ thuỷ triều lên thì đem binh ra khiêu chiến, Chiến thuyền của quân Nguyên do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp xông vào đánh, quân Nguyễn Khoái quay thuyền chạy, nhử cho thuyền giặc qua khỏi chỗ đóng cọc.

Đến lúc thấy thuỷ triều xuống thì quay binh lại hết sức mà đánh, kế có đại quân Trần Hưng Đạo tiếp đến. Ô Mã Nhi , Phàn Tiếp thấy quân thế nhà Trần quá mạnh, bèn quay thuyền chạy trở lại. khi chạy đến khúc sông có đóng cọc thì thuỷ triều đã rút xuống, thuyền của quân Nguyên vướng mắc phải cọc, đổ nghiêng đổ ngửa, đắm vở mất nhiều. Quan quân nhà Trần thừa thắng đánh cực hăng, quân Nguyên chết như rạ, máu loang đỏ cả khúc sông, tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đều bị bắt.



Toa Đô bị bắt ở cửa Hàm Tử,

Ô Mã phải chết ở sông Bạch Đằng.

(Bình Ngô Đại Cáo).



BẠCH HÀM NHƯ HOÀNH 

Tức Yến Bạch Hàm, Bình Như Hoành, là hai nhân vật nổi tiếng về thơ văn, và tài hoa trong truyện “Bình Sơn Lãnh Yến” của Trung Quốc.



Cho hay kỳ lại gặp kỳ,

Bạch Hàm há dễ kém chi Như Hoành.

(Lục Vân Tiên).



BẠCH KHỞI 

Hay “Bạch Khỉ”.

Người đời Chiến Quốc, làm đại tướng cho Chiêu Tương Vương nước Tần, có tài dụng binh, đã từng đánh lấy 70 thành, được phong làm Võ An Quân.

Bạch Khởi là người hiếu sát, khi đánh thắng Triệu Quát tại Trường Bình, quân Triệu đầu hàng hơn 40 vạn. Bạch Khởi sợ hàng binh nổi loạn, bày mưu cho binh Tần đội vải trắng, nửa đêm đánh vào hàng binh của Triệu, thấy ai không đội vải trắng giết sạch hơn 40 vạn quân trong một đêm.

Sau bị gièm pha, phải chịu tam ban chết một cách thảm thiết.

1.- Bạch Khởi:



Thây chan chan lấp nội Trường Bình,

giận Bạch Khởi ra oai rất dữ.

(Sãi Vãi).

2.- Bạch Khỉ:

Dưới màn nhớ tư tưởng Di Ngô,

Trên ngựa những băn khoăn Bạch Khỉ.

(Hàn Vương Tôn Phú).



BẠCH MÃ BÔN TANG 

Ngựa bạch rượt theo xe tang.

Sách Hậu Hán chép: Trương Nguyên Bá gần chết than rằng: Hận vì chưa thấy mặt bạn ta. Người đồng quận là Ân Tử Trưng hỏi bạn là người nào? Nguyên Bá nói: Phạm cự Khanh ở huyện Sơn Dương là bạn tử hữu của tôi vậy. Ông Nguyên Bá chết, lễ phát dẫn đến huyệt thì bỗng Linh cữu trì lại, không tiến lên. Mẹ của anh vỗ vào Linh cữu mà nói: Nguyên Bá! Giờ đâu còn trông đợi ai, con! Liền lúc đó có người cỡi ngựa trắng, kêu khóc chạy đến. Quả là anh Phạm Cự Khanh.

Người đời sau mới nói: Phạm Cự Khanh bạch mã bôn tang, bất vong tử hữu  , , nghĩa là Phạm Cự Khanh ngựa bạch vượt tang không quên tử hữu.



BẠCH HỒNG QUÁN NHẬT 

Bạch hồng: Mống bạc. Quán nhật: xuyên mặt trời.

Bạch hồng quán nhật là mống bạc xuyên ngang mặt trời.

Sử Ký chép: Bạch hồng quán nhật nhi Kinh Kha ca  , nghĩa là mống bạc xỏ ngang mặt trời bởi ông Kinh Kha ca hát.

Do điển: Khi Kinh Kha vào nước Tần để thích khách vua Tần, Thái Tử Đan nước Yên tống tiễn đến sông Dịch Thuỷ. Ông Kinh Kha ca rằng: Phong tiêu tiêu hề, Dịch thuỷ hàn! Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn  , ! , , nghĩa là gió thổi hiu hiu hề, nước sông Dịch lạnh nhiều! Tráng sĩ ra đi hề, không bao giờ trở lại! Lòng tinh thành của Kinh Kha cảm động đến trời, mống bạc đột nhiên xỏ ngang mặt nhựt.



BẠCH TÔ 

Tức Lý Bạch và Tô Đông Pha.

Lý Bạch tự Thái Bạch, hiệu là Thanh Liên cư sĩ, là một thi hào bậc nhứt đời nhà Đường. Xem: Lý Bạch.

Tô Đông Pha tức Tô Thức, người Mi sơn, đời nhà Tống, tự là Tử Chiêm, học rộng, tinh thông kinh sử, đỗ tiến sĩ. Lúc làm quan dưới thời Anh Tông, phê phán tân pháp của Vương An Thạch, ông bị đổi ra Hoàng Châu, tại đây ông làm nhà ở đất Đông Pha, nên lấy hiệu là Đông Pha Cư Sĩ. Xem: Tô Tử.



Bạch,Tô sẵn mối duyên lành,

Mượn câu cảnh, ngụ câu tình họa may.

(Hoa Tiên Truyện).



BẠCH THỐ 

Bạch: Trắng. Thố: Con thỏ.

Bạch thố là thỏ bạc, do tục truyền trên mặt trăng có con thỏ trắng giã thuốc, nên còn gọi mặt trăng là bạch thố. Xem: Thỏ bạc ác vàng.



Một vầng Bạch Thố bóng giăng.

Non sông bóng giợn, soi bằng lòng gương.

(Dương Từ Hà Mậu).



BẠCH THỦ THÀNH GIA 

Bạch thủ: Tay trắng, chỉ tay không. Thành gia: Thành nhà, chỉ nên sự nghiệp.

Bạch thủ thành gia ý muốn nói người tài giỏi, chỉ hai bàn tay trắng mà lập nên sự nghiệp.



Bạch thủ thành gia ít kẻ tài,

Cũng như Huệ mạng thế không hai.

(Đạo Sử).



BẠCH VÂN 

Bạch vân là mây trắng.

Do tích Địch Nhân Kiệt đời Đường làm quan ở thành Tinh Châu, cha mẹ ở đất Hà Dương xa cách nơi ấy mấy ngày đường. Ông thường lên núi Thái Hàng nhìn chòm mây trắng ở chân trời mà nói với kẻ tả hữu: Nhà cha mẹ ta ở dưới chòm mây bạc ấy.

Vì vậy, khi nói các từ như Áng mây, phiến vân, bạch vân, mây trắng, mây bạc, chòm mây đều có nghĩa trông cha mẹ, quê hương.



Bạch vân kìa nẻo xa xa,

Song thân ta đấy là nhà phải không?

(Quan Âm Thị Kính).



BẠCH VIÊN 

Bạch viên là vượn bạch hay vượn trắng.

Nhà sư Trần Huyền Trang tức là Đường Tăng, người ở Yên Sư, xuất gia đầu Phật từ thuở nhỏ, học các kinh sách nhà Phật, từng đi sang nước Ấn Độ đem về được hơn 650 bộ kinh, cùng đệ tử dịch được hơn 75 bộ. Phật giáo ở Trung Quốc thịnh hành từ đấy.

Đường tăng có nuôi một con vượn trắng, rất tinh khôn, sau đem dâng cho Đường Minh Hoàng, hồi loạn An Lộc Sơn tự nhiên mất. Hơn mười năm sau, có Viên phu nhân, vợ của Tôn Khác làm Phán quan ở Nam Khang, đến lễ chùa, cung tiến một cái vòng bích ngọc, nói rằng của chùa xin trả lại. Đường tăng nhận ra thì là chiếc vòng buộc ở cổ con vượn trắng ngày trước. Xem lại đã thấy Viên phu nhân hoá thành vượn trắng leo lên cây chuyền vào rừng xanh mất dạng.

Sách Tục Thế Thuyết chép: Bạch viên hoá thành người, lấy Tôn Khác sinh được hai người con.

Ba trăng tiếng kệ câu kinh,

Bạch viên sao nỡ phụ tình Huyền Trang.

(Truyện Phan Trần).



Bạch viên xưa kết Tôn sinh,

Chẳng vì dan díu bỏ kinh tòng quyền.

(Truyện Trinh Thử).



BÁI CÔNG 

Tức là Hán Cao Tổ.

Vua Hán Cao Tổ tên là Lưu Bang. Lúc đầu, Lưu Bang tụ họp hơn ba ngàn người, khởi binh dựng nghiệp ở huyện Bái (Đất Bái) để đánh Tần, được dân chúng tôn là Bái Công. Đất Bái là một huyện của Tần đặt. Thời Hán thuộc Bái Quận, nay thuộc tỉnh Giang Tô, ở phía đông Bái Huyện.

Xem: Lưu Bang.



Nghĩa quen khá chớ lòng Dương thị,

Nết bạc hằng thìn dạ Bái Công.

(Bạch Vân Quốc Ngữ).



BÁI TỔ 

Lễ cúng Tổ Tiên Ông Bà.

Tục ngày xưa khi được việc mừng như thi đậu, bổ làm quan, người ta thường bày lễ cúng Tổ Tiên, gọi là Bái tổ, hay vinh quy bái tổ.

Rày được ơn trên về bái tổ.

(Lâm Tuyền Kỳ Ngộ).



BÀI BINH BỔ TRẬN 

Bài binh: Sắp xếp quân binh. Bố trận: Phân bổ hình thế chiến trận.

Bài binh bố trận là sắp đặt quân lính để sửa soạn giao chiến với nhau.



Kìa những kẻ bài binh bố trận,

Đổi mình vào cướp ấn nguyên nhung.

(Thập Loại Chúng Sinh).



BÀI VỊ 

Bài: Tấm bảng. Vị: Chỗ ngồi.

Bài vị còn gọi là Thần vị, Linh vị, Thần chủ, hay Mộc chủ, là một tấm giấy hoặc gỗ dày, có đế đặt đứng được. Trên mặt giấy hoặc gỗ có viết tên họ, ngày sinh, ngày mất của người chết…Bài vị được người xưa quan niệm là đặt trên bàn thờ để linh hồn người quá cố nương tựa vào đó.



Sang nhà cha tới trung đường,

Linh sàng bài vị thờ nàng ở trên.

(Truyện Kiều).



Trạng nguyên còn hãy sụt sùi,

Ngó lên bài vị lại xui lòng phiền.

(Lục Vân Tiên).



Họ tên bài vị rõ biên,

Ăn chay nằm đất chúc nguyền vong linh.

(Dương Từ Hà Mậu).



BÃI BỂ NƯƠNG DÂU

Do chữ “Thương hải tang điền  ”. Bãi bể là thương hải, nương dâu là tang điền.

Theo sách Thần Tiên Truyện, cứ ba mươi năm lại một lần thay đổi, biển cả hoá thành ruộng dâu.

Nghĩa bóng: Chỉ sự thay đổi lớn lao.

Chữ: Bãi bể nương dâu, Bể dâu, Cồn xanh, Tang hải, Tang thương đều có nghĩa như chữ “Tang điền thương hải”.

Xem: Tang điền thương hải.



Khóc vì nỗi thiết tha sự thế,

Ai bày trò bãi bể nương dâu.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



Phút giây bãi bể nương dâu,

Cuộc đời là thế biết hầu nài sao?

(Ai Tư Vãn).



BẢY BẮT BẢY THA

Bởi chữ “Thất túng thất cầm  ” tức bảy lần thả, bảy lần bắt.

Do điển trong Thục Chí viết: Mạnh Hoạch là tù trưởng Nam man, không chịu phục nhà Thục Hán. Ông Gia Cát Khổng Minh muốn bọn Nam man tâm phục, nên đem binh đánh Mạnh Hoạch, bảy lần bắt được, bảy lần đều thả. Từ đó, Mạnh Hoạch mới phục và nói: Oai trời của Thừa tướng, người Nam man chúng tôi không dám làm phản nữa.

Chước dùng bảy bắt bảy tha,

Oai trời nhường ấy giặc đà chạy tênh.

(Ngọa Long Cương Vãn).



BẢY HÙNG

Dịch từ chữ “Thất hùng  ” tức là bảy nước chư hầu hùng cường trong thời Chiến Quốc. Bảy nước mạnh đó là Tần, Triệu, Tề, Yên, Sở, Hàn và Nguỵ.

Xem: Năm bá bảy hùng.

Năm bá mượn vay, nhân nghĩa mọn.

Bảy hùng giành xé, lợi danh bay.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



BẢY LÃO

Tức là bảy ông lão đời nhà Tấn, thường vui chơi ở nơi rừng Trúc Lâm, mà người đời xưng tụng là Trúc Lâm Thất Hiền.

Xem: Trúc Lâm Thất Hiền.

Bảy Lão nhắc tình già dẹo cẳng,

Ba bà hỏi việc mụ ham thi.

(Thiên Thai Kiến Diện).



BẢY NỔI BA CHÌM

Chỉ hoàn cảnh không may, gặp chuyện gian truân, vất vả phải chịu cực khổ như vật trôi lênh đênh trên mặt nước, khi chìm khi nổi bao phen.



Con ơi ruột mẹ nẫu như tương,

Bảy nổi ba chìm rất thảm thương.

(Khuê Phụ Thán)



Thân em vừa trắng lại vừa tròn,

Bảy nổi ba chìm với nước non.

(Thơ Hồ Xuân Hương).



BẢY NGƯỜI TRƯỚC LÂM

Tức là “Trúc Lâm thất hiền  ”, đó là bảy vị ẩn giả đời nhà Tấn: Kê Khang, Nguyễn Tịch, Sơn Đào, Hướng Tú, Lưu Linh, Nguyễn Hàm, Vương Nhung ở tại rừng Trúc Lâm, nên người đời sau mới gọi danh hiệu ấy.



Tiên rằng:Ông quán chớ cười,

Đây đhttps://hocday.com/thin-vn-quch-vn-ha-trong-thi-vn-nm-2011-li-ta/30102_html_6f264e0b.pngà nhớ đặng bảy người Trước Lâm.

(Lục Vân Tiên).



BAN CHIÊU 

Nàng Ban tức Ban Chiêu.

Ban Chiêu tự là Huệ Cơ, con gái Ban Bưu, em Ban Cố và Ban Siêu, quê ở An Lăng, là vợ của Tào Thế Thúc, sớm lâm vào cảnh goá bụa.

Ban Chiêu là người học rộng tài cao, được vua Hoà Đế xuống chiếu, triệu nàng vào Đông Quan Tùng Thư giao cho nàng nhiệm vụ soạn tiếp bộ Hán Thư của cha và anh nàng để lại, viết cho hoàn tất bộ sách.

Ban Chiêu được các Hoàng hậu và các Hậu phi kính trọng, xem như bậc thầy.

Khen “Tài nhả ngọc phun châu”,

Nàng Ban, Ả Tạ cũng đâu thế này.

(Truyện Kiều).



BAN CƠ 

1.- Nếu chữ Cơ là mỹ hiệu để gọi phụ nữ thì Ban cơ có nghĩa là người đẹp họ Ban, tức là Ban Tiệp Dư, một cung nữ được vua Thành Đế nhà Hán ban cho chức Tiệp Dư. Sau bị gièm pha, và ghét bỏ, phế ra chầu Thái hậu ở cung Thường Tín.

Xem: Tiệp Dư.

2.- Em gái của Ban Cố là Ban Chiêu, còn có tên là Cơ, tự Huệ Cơ, được gả cho Tào Thái Thúc, nhưng goá chồng sớm. Ban Cố viết bộ Hán Thư, chưa rồi mà chết. Vua Hoà Đế chiếu triệu nàng Ban Chiêu viết nối theo để được hoàn thành. Vua thường triệu vào cung dạy Hoàng hậu và các Quý nhân trong cung, dạy phải lấy lễ thầy mà thờ. Vua ban hiệu là Tào Đại Cô.

Xem: Tào Đại Cô.

Giá xưa nay chửa thấy ai,

Nào người Thái Nữ, nào người Ban Cơ.

(Lưu Nữ Tướng).

BAN SIÊU 

Người đời Đông Hớn, tự là Trọng Thăng, nhà rất nghèo, nhưng có chí lớn, thường đi viết mướn lấy tiền ăn học và nuôi mẹ già, không màng khó nhọc. Lắm lúc bực tức, ném bút mà than rằng: Đại trượng phu phải đeo cung mang đao theo gương Phó Giới Tử và Trương Khiên lập công danh ở miền biên thuỳ để được phong hầu, chứ lẽ đâu lại theo nghiên bút mà tàn lụi bao giờ.

Sau Ban Siêu đầu quân đánh giặc ở miền Tây Vực, thu phục hơn năm mươi nước nhỏ, được phong làm Định Viễn Hầu.

Những tài tót núi nhảy sông,

Sánh cùng Tôn Vũ sức cùng Ban Siêu.

(Thiên Nam Ngữ Lục).



BAN THỊ 

Tức nàng Ban làm chức Tiệp dư đời vua Thành Đế nhà Hán. Vua Thành Đế muốn nàng Ban Tiệp dư ngồi chung xe phượng liễn đi chơi chốn hậu đình, nàng đều từ chối.

Sau bị nàng Triệu Phi Yến gièm pha, bà sợ hại thân, bèn xin vua cho theo hầu bà Thái Hậu, mẹ vua ở cung Trường Tín.

Xem: Nàng Ban.



Chối liễn phượng chẳng ngồi,

Ban Thị sự đà sau thấy;

Chống muôn hùng nào ngại,

Phùng Cơ lòng hãy xa ngừa.

(Cung Trung Bảo Huấn).



BAN TRÚC 

Ban: Có vằn lốm đốm. Trúc: Cây trúc, cây tre.

Ban trúc là tên một thứ trúc có vằn lốm đốm, được người ta dùng làm quạt. Do đó, loại quạt này được gọi là quạt Ban trúc.



Nón kiển hàng, sãi sắm một cái cho xinh ghê,

Quạt ban trúc, sãi sắm một cây cho báu riết.

(Sãi Vãi).



BÁN KHAI 

Bán: Phân nửa. Khai: Mở mang.

Bán khai là mới mở mang được phân nửa, chỉ những dân tộc còn chậm tiến, chưa được khai hoá hoàn toàn.



Văn minh rày đã bán khai,

Mà đây còn hãy như đời Hùng Vương.

(Thơ Tản Đà).



BÁN NƯỚC CẦU VINH

Bởi câu “Mãi quốc cầu vinh  ”.

Làm dân không giúp ích gì cho đất nước, trái lại vì muốn cầu sự vinh hiển mà làm những việc có hại cho quốc gia, hoặc thông đồng với ngoại bang phản lại đất nước, đó gọi là bán nước cầu vinh.

Quân cường Minh đã thừa cơ tứ ngược.

Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh,

(Bình Ngô Đại Cáo).



BÁN NGUYỆT MUA HOA

Nguyệt hoa là trăng hoa, chỉ sự tư tình giữa trai gái, sự ăn chơi đàn điếm.

Bán nguyệt mua hoa là nói hạng gái lầu xanh, chuyên đem việc trăng hoa ra mua bán.

Xem: Buôn hương.



Chỉ những phường bán nguyệt mua hoa,

Đưa hơi quyển ngâm nga trêu sắc gái.

(Phương Tu Đại Đạo).



BÁN TÍN BÁN NGHI 

Bán tín: Nửa tin tưởng. Bán nghi: Nửa nghi ngờ.

Bán tín bán nghi là nửa tin nửa ngờ, tức chưa tin tưởng hoàn toàn.



Nguyệt Nga bán tín bán nghi,

Đánh liều nhắm mắt theo đi về nhà.

(Lục Vân Tiên).



BÁN TỬ 

Bán: Phân nửa. Tử: Con.

Bán tử dùng để chỉ con rể, xem gần như là con.

Trong Đường Thư có câu: Tích vi huynh đệ, kim tế bán tử dã. Bệ hạ nhược hoạn Tây Nhung tử, thỉnh dĩ binh trừ chi  , 婿 , 西 , , nghĩa là trước kia là anh em, bây giờ là con rể, con một nửa rồi. Bệ hạ nếu có lo về con ở Tây Nhung này, thì xin dùng binh mà trừ đi.

Cậy người môn lại thưa lời,

Đưa tin bán tử họ Mai sang hầu.

(Nhị Độ Mai).



BÀN CANH 

Tên một ông vua đời nhà Thương.

Nhà Thương đóng đô ở Hạ Bắc đã lâu đời, chính sự đã suy tàn, đến đời vua Bàn Canh muốn thay đổi vận nước, mới thiên đô về kinh đô cũ của Thành Thang, nên khiến dân tình ta thán vì phải bỏ cửa bỏ nhà đi theo. Nhà vua mới làm ba thiên Bàn Canh để an ủi dân tình.

Học thói Bàn Canh nấu chín Thang.

(Thơ Nguyễn Khuyến).



BÀN CỔ 

Theo truyền thuyết của Trung Quốc thì Bàn Cổ là tên một ông vua thuỷ tổ của loài người.

Tương truyền, khi trời đất đã định vị thì vua Bàn Cổ đã xuất hiện trị đời.

Vua Bàn Cổ mở lò tạo hoá,

hồng mông đà lẽo đẽo thêm xuân;

họ Hữu Ngu khoi mạch sơn xuyên,

cương giới vẫn rành rành như tạc.

(Ngã Ba Hạc Phú).



Pháp bèn cất tiếng hét lên,

Mời ông Bàn Cổ tọa thiền chứng miêng.

(Lục Vân Tiên).



BÀN ĐÀO 

Tên một loại đào Tiên của bà Tây Vương Mẫu.

Theo sách Hán cổ sử: Vua Hán Võ Đế cầu bà Tây Vương Mẫu, được ban cho bốn quả đào Tiên và cho biết rằng: Cây bàn đào ba ngàn năm mới nở hoa, ba ngàn năm nữa mới kết quả, ăn được một quả thì sống đời đời.

Người dâng thánh thọ vô cương,

Bàn đào chánh nhụy thiên hương đầy toà.

(Tư Dung Vãn).



Rượu cúc Bàn Ðào chờ hội ẩm,

Thuốc Tiên lò tạo giữ sanh tồn.

(Đạo Sử).



BÀN GIAO 

Bàn: Cứu xét kỹ càng. Giao: Trao đổi cho nhau.

Khi thay đổi về chức vụ, người cũ xem xét lại hồ sơ, giấy tờ để trao lại cho người mới, đó gọi là bàn giao.



Phu nhân công tử xuống thoàn,

Mai công ở lại đợi còn bàn giao.

(Nhị Độ Mai).



BÀN HOÀN 

Bàn hoàn có nghĩa là loanh quanh, bịn rịn, hay do dự không quyết định.



Nàng rằng: Thiên tải nhất thì,

Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.

(Truyện Kiều).



Nỗi riêng riêng những bàn hoàn,

Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn

(Truyện Kiều).



Sá chi nửa cánh hoa tàn,

Tình kia ý nọ bàn hoàn nữa chi.

(Truyện Trinh Thử).



BÀN KHÊ

Khương Tử Nha lúc còn hàn vi ngồi câu cá ở sông Vị tại Bàn Khê. Sau vua Văn Vương nhà Châu đi săn bắn, gặp ông rước về tôn làm thầy. Ông đã giúp cho vua Văn Vương và Võ Vương dựng nên nghiệp nhà Châu.



Nọ nọ Bàn Khê công nghiệp cả,

Xuân thu lần kể tám mươi dư.

(Hồng Đức Quốc Âm).



Lữ dù chưa gặp xe Văn,

Câu kia chưa dễ buông cần Bàn Khê.

(Ngoạ Long Cương Vãn).



BẢN SƯ 

Hay “Bổn sư”, có nghĩa là thầy ta.

Đức Phật Thích Ca là Tổ và khai sáng ra Phật Giáo, nên những tín đồ theo đạo Phật đều gọi là Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bản sư rồi cũng đến sau,

Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.

(Truyện Kiều).



BẠN KIM LAN 

Bạn: Bè bạn. Kim lan: Vàng và hoa lan.

Bạn kim lan bạn bè giao du thân thiết, tình nghĩa bền chặt như vàng, khí vị thơm như hoa lan.



Bàn riêng mấy bạn kim lan,

Phường ta bất quá sàn sàn bực trung.

(Nhị Độ Mai).



BẠN LOAN 

Bạn: Bè bạn. Loan: Chim loan.

Bạn loan là đôi chim loan làm bạn không rời nhau.

Nghĩa bóng: Chỉ bạn tình, hay vợ chồng.

Đã trồng bạch bích dành đây,

Còn chờ bói phụng chưa vầy bạn loan.

(Quan Âm Thị Kính).



BẠN LỮ 

Bạn: Bè bạn. Lữ: Bạn.

Bạn lữ tức là cùng trang lứa làm bạn bè với nhau.



Giang hồ bạn lữ câu tan hiệp,

Tùng cúc anh em cuộc tỉnh say.

(Thơ Nguyễn Công Trừ).



Mãn kiếp những nỗi mình, mình xử,

Nào 
mong chi bạn lữ giúp nên.

(Phương Tu Đại Đạo).



Dầu kén chọn vào hàng bạn lữ,

Nên cho em hạng thứ trên người.

(Phương Tu Đại Đạo).



BẠN NGHỊCH 

Bạn: Làm phản. Nghịch:Trái ngược.

Bạn nghịch là kẻ làm loạn, làm phản. Đồng nghĩa với chữ phản nghịch.



Vua Đường cất lấy xem qua,

Mới hay bạn nghịch ấy là Bá Cao.

(Nhị Độ Mai).



BẠN TÁC

Bạn tác tức là bạn bè cùng tuổi tác, cùng trang lứa với nhau.



Xảy đâu bạn tác vừa ra,

Trực cùng Hâm, Kiệm xúm cùng đưa Tiên.

(Lục Vân Tiên).



Mình dầu đồng bạn tác cùng quan,

Đừng hổ phận bần hàn cha mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).



BÀNG CỬ 

Bàng Cử là hiệu của Nhạc Phi.

Nhạc Phi là một danh tướng đời Tống, sanh ở huyện Thang Âm, làm đến chức Ðại Nguyên Soái đời vua Cao Tông. Ông một lòng tận trung báo quốc, đem quân đi đánh thắng nước Liêu, bảo vệ bờ cõi, nhưng vua Cao Tông hôn ám, dùng kẻ gian thần là Tần Cối làm Tể Tướng, để Tần Cối gièm pha hãm hại giết chết Nhạc Phi.

Xem: Nhạc Phi.



Tam ưu Bàng Cử trắng đầu non,

Mua lấy chức quan đức phải mòn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



BÀNG QUYÊN 

Người nước Nguỵ đời Chiến Quốc, cùng Tôn Tẩn học một thầy là Quỷ Cốc Tiên Sinh, nhưng thua tài Tôn Tẩn, nên thường tìm cách hãm hại. Bàng Quyên làm quân sư cho Nguỵ Huệ Vương, cầm quân đánh đâu thắng đó nên sinh ra kiêu căng ngạo mạn.

Sau Tôn Tẩn giúp Tề, đem quân dụ Bàng Quyên tới Mã Lăng rồi cho phục binh bắn chết theo lời thề.

Xem Tôn Tẩn.



Cười người Tôn Tẩn không lừa,

Trước đà thẫy máy chẳng ngừa Bàng Quyên.

(Lục Vân Tiên).



BÀNG SINH 

Bàng: Một bên. Sinh: Chỉ sinh vật.

Bàng sinh là một sinh vật thuộc loài vật hạ đẳng hơn súc vật như cá cua, tôm, ốc…



Hoặc đọa địa ngục, Tu la,

Làm thân ngạ quỉ cùng là bàng sinh.

(Hứa Sử Tân Truyện).



BẢNG HỔ

Do chữ “Hổ bảng  ”.

Đời nhà Mãn Thanh nước Trung Hoa chỉ võ khoa là hổ bảng.

Ở Việt Nam, Long bảng (Trên bảng có vẽ rồng) đề tên những người đậu Tiến sĩ; Hổ bảng (Vẽ cọp) đề tên những người đậu Cử nhân; Mai bảng (Vẽ cây mai) đề tên những người đậu Tú tài.



Chẳng hay bảng hổ không danh,

Huyện quan cũng khỏi Nho sanh chê cười.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



Trời xanh đâu phụ người văn học,

Bảng hổ đề danh mới sướng cho.

(Thơ Bùi Hữu Nghĩa).



BẢNG HÙM

Do chữ “Hổ bảng  ”, tức là bảng có vẽ hình con cọp, dùng để ghi tên những người thi đỗ cử nhân.

Bảng hùm ở nhà Thanh, Trung Hoa còn dùng để chỉ những người thi đậu về võ khoa.

Xem: Bảng hổ.



Đất bằng một tiếng sấm vang,

Bảng hùm tỏ phạm, tháp nhàn diễn Trương.

(Sơ Kính Tân Trang).



BẢNG MAI 

Bảng mai hay mai bảng là bảng ghi tên những người thi đỗ trong kỳ thi Hội. Bởi vì thi Hội được tổ chức vào mùa xuân khi hoa mai nở lúc cuối tháng chạp, đầu tháng giêng Âm lịch.



Hội xuân đầu chiếm bảng mai,

Cám công đèn sách dùi mài bấy lâu.

(Lưu Nữ Tướng).

BẢNG NHÃN 

Ngày xưa khoa thi Tiến sĩ có ba bực: Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa. Như vậy, Bảng nhãn là đỗ vào bậc thứ hai của khoa Đình thí, dưới bậc Trạng nguyên.



Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa,

Kẻ kinh, người trại cũng là tài danh.

(Quốc Sử Diễn Ca).



Trước đền đứng lặng đầu ngao,

Dương Trân Bảng Nhãn, Bửu vào Thám hoa.

(Dương Từ Hà Mậu).



BẢNG RỒNG

Rồng là loài vật linh, thường dùng để chỉ nhà vua.

Bảng rồng là bảng dùng để ghi tên những người thi đỗ trong các khoa thi do nhà vua tổ chức.

Khen cho gái biết tìm chồng,

Đuốc hoa lại đợi bảng rồng mới toan.

(Thanh Hoá Quan Phong).



Bảy mừng học sĩ quyết khoa,

Chuyên cần lập nghiệp tên ra bảng rồng.

(Thanh Hoá Quan Phong).



BẢNG THU 

Bảng niêm yết những người thi đỗ vào mùa thu. Ngày xưa thi hương thường tổ chức vào mùa thu.



Bảng thu sớm sớm đề tên,

Tiện đường sớm lại ruỗi liền hội xuân.

(Hoa Tiên Truyện).



BẢNG VÀNG

Do chữ “Kim bảng  ”, tức là bảng có thếp vàng, đề tên những vị tân khoa đỗ Tiến sĩ trong thời khoa cử ngày xưa của Việt Nam.

Xem: Kim bảng.

Phước thừa muôn đội tông môn,

Bảng vàng may trộm chữ son tên đề.

(Truyện Phan Trần).



Xin vâng, nhưng hãy xin chờ,

Bảng vàng rồi sẽ đuốc hoa cũng vừa.

(Nhị Độ Mai).



Hai chàng đi tới Tấn bang,

Vào trường thi hội, bảng vàng đỗ cao.

(Dương Từ Hà Mậu).



Trời sao nỡ phụ tài lành,

Bảng vàng chưa thấy ngày xanh đã mòn.

(Lục Vân Tiên).



BẢNG VÀNG BIA ĐÁ

Bảng vàng do chữ “Kim bảng  ”, tức là bảng có thếp vàng, để đề tên những sĩ tử được thi đỗ. Bia đá dùng để khắc tên những người thi đậu.

Bảng vàng bia đá chỉ những người thi đỗ trong chế độ khoa cử ngày xưa.

Tới năm mươi tuổi đã vừa,

Bảng vàng bia đá, quan đưa tận nhà.

(Huấn Nữ Ca).



BẢNG XUÂN

Do chữ “Xuân bảng  ” tức là bảng chép tên những người thi đỗ Tiến sĩ của kỳ thi Hội, được tổ chức vào mùa xuân.



Bảng xuân nay đã dự mừng,

Muôn hồng nghìn tía tưng bừng đón ai.

(Truyện Phan Trần).



Giao rằng chiếm được bảng xuân,

Trở về rồi sẽ hôn nhân kết nguyền.

(Nữ Tú Tài).



Tình cờ chiếm được bảng xuân,

Ấy là phú quý đầy sân quế hoè.

(Thanh Hoá Quan Phong).



BẠNG CÒ

Tức con trai và con cò, bởi câu “Bạng duật tương trì  ”, nghĩa là con trai và con cò níu kéo, giằng co nhau. Ý nói hai người tranh nhau, khiến người thứ ba được lợi.

Xem: Bạng duật.

Sẩy đàn tan nghé bơ vơ,

Bạng khoe sức bạng,  khoe sức cò.

(Thiên Nam Ngữ Lục).



BẠNG DUẬT 

Như chữ “Bạng duật tương trì  ”, nghĩa là con trai và con cò níu kéo nhau.

Con trai há mồm phơi nắng, con cò mổ vào ruột trai, trai liền ngậm lại, kẹp mỏ cò. Hai đàng giằng co với nhau thì có ông câu được lợi, bắt cả trai lẫn cò.

Nho có câu: Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi tiếu hi hi  , , (trai cò giằng co, ông câu bắt được cười ha hả).



Dằng dai bạng duật bao lâu,

Bóng ô hè giục sang thâu bấy chầy.

(Hoa Tiên Truyện).



Thế bạng duật đương còn đối mặt,

Thói đường lang sao khéo lắng tai.

(Hịch Tây Sơn).



BẠNG GIÀ SINH CHÂU

Bởi câu “Lão bạng sinh châu  ”, tức là con trai già sinh ra ngọc, ý muốn nói người già sinh ra con quý, chỉ điềm tốt.



Thú vui nửa thú ngư hà,

Rùa linh đội sách, bạng già sinh châu.

(Tư Dung Vãn).



BÀNH TỔ 

Bành Tổ là người đời Đường Nghiêu, họ Tiền tên Kiên, cháu của vua Xuyên Húc, được phong chức ở Bành Thành, nên người ta gọi ông là Bành Tổ.

Tương truyền Bành Tổ là người sống lâu, từ đời nhà Hạ đến nhà Ân, tính ra hơn 800 năm.

Làm chi nghiêng ngửa duỗi co,

Như ông Bành Tổ riêng lò hóa công.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



Chòm rong lộp xộp râu Bành Tổ,

Kẹt đá gio gie nướu Tử Nha.

(Thơ Huỳnh Mẫn Đạt).



BÀNH THÀNH 

Vào đời Xuân Thu, Bành Thành là một ấp của nước Tống. Sau nước Tần đặt thành huyện, nay là Từ Châu Thị, thuộc tỉnh Giang Tô.



Thiền cao chưa đủ đỡ muôn linh,

Như thuở Hạng Vương ở Bành Thành.

(Đạo Sử).



BÀNH TRẠCH 

Tên một huyện thuộc tỉnh Giang Tây, nơi Đào Uyên Minh, đời nhà Tấn đã từng là Huyện lệnh ở đây.

Xem: Đào Tiềm.

Cuộc cờ chén rượu cung đàn,

Thơ ngâm Bành Trạch, tranh vờn Tiêu tương.

(Sơ Kính Tân Trang).



BÀNH VIỆT

Bành Việt tự là Trọng, người Xương Ấp, nay thuộc tỉnh Sơn Đông. Trước Bành Việt theo thờ Hạng Võ, sau về với Hán Cao Tổ, lập được nhiều công to. Khi đất nước được thống nhất, Bành Việt bị vua Hán Cao Tổ tru di tam tộc.



Thưa rằng: Bành Việt Lương Vương,

Xem dường dung mạo có phương hơn người.

(Trọng Tương Vấn Hớn).



BAO BIẾM 

Bao: Khen. Biếm: Chê.

Bao biếm là khen và chê.

Người đời sau nói về kinh Xuân Thu của Đức Khổng Tử như sau: Nhất tự chi bao, vinh ư hoa cổn; nhất tự chi biếm, nhục ư phủ việt  , , , , nghĩa là một chữ khen, thì vinh hơn cái áo hoa cổn của vua ban cho, một chữ chê thì nhục hơn là tội bị rìu búa.

Hơn thua trối mặc đời bao biếm,

Nửa kiếp dầu qua hết lấn chen.

(Đạo Sử).



BAO CHỬNG 

Tên gọi là “Bao Công  ”, tự là Hy nhơn, người ở đất Hiệp Phì đời nhà Tống. Ông là người có tiếng xét án giỏi, vụ án dầu bí mật và bao lâu, ông đều xử ra manh mối.

Bao Chửng là người rất ngay thẳng, giữ gìn luật pháp rất nghiêm minh, nên những kẻ quyền quý hay hoạn quan đều rất nể sợ.

Bao Chửng làm đến chức Khu Mật Phó Sứ, từng xử nhiều vụ án ly kỳ được chép ở sách Bao Công Kỳ Án.



Ở đài các giữ lòng Bao Chửng,

Nhiệm Tướng Khanh thì thói Nguỵ Trưng.

(Quốc Âm Thi Tập).



BAO DUNG 

Bao: Trùm lên. Dung: Tha thứ.

Bao dung là chỉ người có lòng độ lượng, hay tha thứ bảo bọc kẻ khác.



Lượng bao dung dầu quyết hẹp hòi,

Tư minh đạt có đâu lầm lỗi.

(Tần Cung Nữ).



BAO QUẢN

Bao là đâu, há không, thế nào. Quản là ngại.

Bao quản là chẳng ngại gì, há ngại sao, không nệ gì…Bao quản là tiếng dùng để chỉ tâm lý của người an phận, cam chịu khi gặp nghịch cảnh đòi hỏi hy sinh.

Thân lươn bao quản lấm đầu,

Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa!

(Truyện Kiều).



Phận bèo bao quản nước sa,

Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.

(Truyện Kiều).

Búa rìu bao quản thân tàn,

Nỡ đầy đọa trẻ, càng oan khốc già.

(Truyện Kiều).

BAO TỶ 

Bao Tỷ hay Bao Tự là người phi sủng ái của Châu U Vương. Sau U Vương phế Thân Hoàng Hậu để lập Bao Tỷ làm chánh cung. Vì ham mê sắc đẹp của Bao Tỷ mà vua U Vương không thiết với chính sự đến nỗi sau phải mất nước. Xem: Bao Tự.



Trà mi kém sắc hơn hường,

Tiếng cười Bao Tỷ hơn hờn Phan Vương.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BAO TÓC

Bởi chữ “Đối phu phong phát  ” tức là bao tóc đợi chồng.

Đường Thư chép: Ông Giả Trực Ngôn là một vị quan, vì có công việc mà phạm tội bị đày đi Lĩnh Nam, bèn từ biệt cùng vợ là bà Đổng Thị rằng: Sự sống chết không thể hẹn kỳ, nay tôi bị tội đày 20 năm, ra đi không biết sống chết thế nào, nàng ở lại nên tái giá để nương tựa tấm thân! Vợ khóc mà không đáp lại, chỉ lấy dây buộc tóc, bao ngoài bằng vải lụa, nhờ Trực Ngôn viết lên rằng: Phi quân thủ bất giải  , có nghĩa là chẳng phải tay chàng, không mở.

Sau đó, Trực Ngôn bị đi đày, Hai mươi năm sau mới được trở về, chữ và lụa trên đầu vợ còn rành rạnh, đến khi đem nước nóng gội tóc, tóc rụng tất cả. Thật là “trinh tiết” đáng khen!

Người đời sau khen rằng: Đổng Thị đối phu phong phát, trinh tiết kham khoa  , , nghĩa là bà Đổng Thị đối chồng bao tóc, trinh tiết thật đáng khen.

Dưới trăng bóng ngọc còn nguyên,

Ôm bình, bao tóc sang hèn cũng cam.

(Kinh Thế Đạo).



Thiếp cam bao tóc thờ chàng,

Rót chung ly biệt đôi hàng lụy sa!

(Kinh Thế Đạo).



BAO TỰ 

Bao Tự hay Bao Tỷ là một người con gái đẹp đời Chiến Quốc, do Bao Hồng Đức xuất vải lụa mua để tiến vào cung cho Châu U Vương đặng xin tội cho cha là Bao Quýnh.

Bao Tự vào cung được vua U Vương sủng ái, phế Thân Hoàng hậu và Thái Tử Nghi Cửu để lập Bao Tự làm Chánh cung Hoàng hậu và con là Bá Phục làm Thái Tử. Bao Tự có gương mặt rất đẹp, nhưng luôn luôn buồn ủ dột, không khi nào có một nụ cười. Biết nàng thích nghe tiếng lụa xé, U Vương truyền xuất cả trăm cây lụa trong kho để xé cho Bao Tự nghe. Nghe qua mặt nàng chỉ tươi một chút mà không cười.

Tại Ly Sơn thời ấy có đắp một cái đài gọi là Phong Hoả Đài, khi nào Kinh thành có loạn thì đốt lửa trên ấy để báo cho các chư hầu biết mà đem binh về cứu viện. Để làm vừa lòng U Vương, Quách Thạch Phủ bèn dâng kế cho đốt lửa Phong Hoả Đài, đánh lừa chư hầu mà làm trò cười cho Bao Tự.

Vua U Vương nghe theo, truyền đốt Phong Hoả Đài, lửa bốc lên cao, chư hầu vội vàng kéo quân đến nườm nượp. Khi tới nơi thấy không có giặc giả, chỉ có U Vương và Chánh hậu bày tiệc uống rượu, chư hầu xẻn lẻn cuốn cờ xếp giáo, kéo nhau ai về xứ nấy. Chừng đó Bao Tự thích chí đứng dựa lan can mà cười ngất.

Sau đó, Thân hầu keo binh đánh kinh đô, U Vương truyền đốt Phong Hoả Đài, nhưng chư hầu sợ bị lừa lần nữa, nên không ai đem binh tiếp cứu. Kết quả, Châu U Vương và Bao Tự đều bị giết chết.



Ly Sơn cười một phút,

Bao Tự kia lầm hết chư hầu.

Vị Thuỷ đòi phen,

Dương Phi nọ độc hòa thiên hạ.

(Cung Trung Bảo Huấn).



Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi,

Tôi yêu Ly Cơ hình nhịp nhàng.

(Nhị Hồ, Thơ Xuân Diệu).



BÁO ÁC 

Báo ác tức là làm điều ác đức, hung dữ sẽ gặp phải việc chẳng lành.



Tích Hiền có câu: Thiện hữu thiện báo, Ác hữu ác báo. Nhược hoàn bất báo, Thời thần vị đáo 
, . ,  , nghĩa là lành có lành báo, dữ có dữ báo. Nếu như chưa thấy báo, thì do thời giờ chưa đến mà thôi.

Ở hiền thì lại gặp lành,

Ở ác báo ác rành rành chẳng sai.

(Ca dao).



BÁO ÂN CHÂU 

Theo sách Tam Tần Ký chép: Ngày xưa, có người câu cá ở hồ Côn Minh, giật lên đứt nhợ, lưỡi câu còn nằm nơi miệng cá.

Cá thoát chết, bèn cho vua Hán Văn Đế nằm mộng, nhờ vua đến hồ lấy giúp lưỡi câu trong miệng. Hôm sau, vua ra chơi ở hồ quả nhiên thấy một con cá lớn còn vướng sợi nhợ. Vua bắt cá, gỡ giúp lưỡi câu ở miệng, rồi thả đi.

Một ngày kia, vua chơi bên hồ nhặt được hai hạt minh châu lớn, đẹp. Vua cho rằng: Đó là cá báo ơn.



BÁO ÂN DĨ OÁN 

Lấy oán báo ơn.

Thói thường, người ta thường lấy điều phước đức đền đáp lại với người có ơn nghĩa với mình, đó là: “Dĩ đức báo ân” .

Nhưng ở đây, lại có những người đem điều thù hằn, oán hận để trả lại điều ơn nghĩa mà người ta đã giúp mình.



Chẳng nhớ câu “Dĩ đức hành nhân”,

Lại lấy chữ “Báo ân dĩ oán”.

(Lục Súc Tranh Công).

BÁO BỔ 

Báo: Đáp trả lại. Bổ: Làm việc có ích cho người.

Báo đáp ơn nghĩa bằng cách giúp ích cho người, tức là đền bù những lúc người ta vì mình mà cực nhọc.



Làm trai trong cõi người ta,

Trước lo báo bổ, sau lo giữ mình.

(Lục Vân Tiên).



Vậy có người hiền lo báo bổ,

Hai mươi bốn thảo dấu còn nay.

(Dương Từ Hà Mậu).



BÁO ĐỀN BA XUÂN

Bởi câu trong thơ cổ "Thùy ngôn thốn thảo tâm, Báo đáp tam xuân huy  , ", nghĩa là ai bảo rằng tấm lòng của tấc cỏ mà báo đáp được ánh sáng của ba mùa xuân. Lời của một người con đi xa nhớ mẹ.



Môn mi mong những nhờ duyên,

Ngỡ đem tấc cỏ báo đền ba xuân.

(Nhị Độ Mai).



BÁO ĐỨC THÙ CÔNG 

Báo đức: Đáp trả lại ân đức. Thù công: Đền trả công ơn.

Báo đức thù công tức là đền đáp cái ân đức và trả công ơn của người đã giúp mình.



Gẫm câu báo đức thù công,

Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.

(Lục Vân Tiên).



BÁO TIỆP 

Báo: Đem tin tức. Tiệp: Thắng trận.

Báo tiệp là báo tin cho biết đã thắng trận.



Hội rồng mây cho phỉ chí tang bồng,

Cờ báo tiệp giữa trời nam lay bướm nhẹ...

(Thơ Nguyễn Công Trứ).



BÁO ỨNG 

Báo: Trả lại. Ứng: Đáp lại.

Báo ứng là được đền trả lại những gì do chính mình đã gây tạo, như làm lành trả lành, làm ác trả ác.



Ngàn xưa mấy kẻ 
gian ngay,

Xem cơ báo ứng biết tay trời già.

(Nhị Độ Mai).



Trịnh Hâm bị cá nuốt rày,

Thiệt trời báo ứng lẽ nầy rất ưng.

(Lục Vân Tiên).



Cho hay duyên kiếp bởi trời,

Nghiệm xem báo ứng rạch ròi chẳng sai.

(Truyện Trinh Thử).



Vì chưng tựu thiểu thành đa,

Họa tai báo ứng chẳng qua mảy hào.

(Kinh Sám Hối).



BÀO ẢNH 

Bọt nước và cái bóng là hai vật rất mong manh, dùng để chỉ sự hư ảo.

Kinh Kim Cang có câu: Nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn, bào, ảnh như lộ diệc như điện ưng tác như thị quan  , , , nghĩa là các pháp hữu vi tức là việc đời như giấc chiêm bao, bọt nước và cái bóng, như giọt móc cũng như ánh sáng của chớp nhoáng thì hết thảy nên xem như vậy cả. Ý nói những sự hiện hữu trên cuộc đời này đều không được lâu bền.

Xem: Mộng ảo.



Sóng cồn cửa biển nhấp nhô,

Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



Kìa bào, kìa ảnh vút qua,

Kìa sương, kìa chớp, kìa là chiêm bao.

(Quan Âm Thị Kính).



Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,

Có chữ rằng: Vạn cảnh giai không.

(Thập Loại Chúng Sinh).



BÀO HY 

Bào Hy tức Phục Hy, vị vua thời thượng cổ theo truyền thuyết Trung Hoa, họ Phong đóng đô ở đất Trần, dạy dân biết cày bừa, chăn nuôi súc vật để đưa vào bếp nấu nướng nên được gọi là Bào Hy. Phục Hy cũng là người đầu tiên vạch ra bát quái (Tám quẻ), cơ sở của Kinh Dịch.

Theo sách Thượng Thư Đại Truyện thì Phục Hy là một vị vua thứ hai trong thời Tam Hoàng, đó là Toại Nhân , Phục Hy , và Thần Nông .

Xem: Phục Hy.



Môn rằng: Tám quẻ Bào Hy,

Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



BÀO LẠC 

Một thứ dụng cụ dùng để tra tấn tội nhơn rất ghê gớm. Sách Liệt Nữ Truyện chép: Một cột đồng dựng đứng có bôi mỡ, bên trong đốt than cháy đỏ rực. Tội nhân bị cột vào trụ đồng cho đến chết cháy như quay.

Hình phạt này có vào thời nhà Thương do Trụ Vương nghĩ ra. Lúc ấy, Trụ vương nghe lời Đắc Kỷ bày ra hình Bào lạc để giết hại người tôi trung. Hình bào lạc này được chế ra để xử Bà Khương Hoàng Hậu.



Đao sơn kiếm thụ đầy thành,

Thuỷ lao bào lạc ngục hình gớm thay.

(Quốc Sử Diễn Ca).



Hình Bào lạc cột đồng vòi vọi,

Đốt lửa hồng ánh giọi chói lòa.

(Kinh Sám Hối).



BẢO CÁI 

Bảo: Quý báu. Cái: Cây lọng.

Bảo cái là cây lọng quý giá, chỉ cây lọng dùng để thờ trên chánh điện Phật.



Ào ào dạng bóng tường loan,

Tràng phan bảo cái giao quan âm thầm.

(Quan Âm Thị Kính).



Chuông kêu lẫn tiếng thiều rung,

Cờ xen bảo cái, tán lồng tràng phan.

(Truyện Phan Trần).



BẢO QUỐC HỘ DÂN 

Bảo quốc: Gìn đất nước. Hộ dân: Hộ nhân dân.

Bảo quốc hộ dân là gìn giữ đất nước, bảo hộ nhân dân, ý nói bảo hộ quốc gia dân tộc.



Thánh cung vạn tuế, tại thượng dương dương,

Bảo quốc hộ dân, lưu ân tích phước.

(Thanh Hoá Quan Phong).



BẠO HỔ 

Do câu “Bạo hổ bằng hà  ” tức là tay không bắt cọp, không thuyền mà lội qua sông. Ý nói làm những việc nóng nảy liều lĩnh, vô ích.

Tử Lộ là người hiếu dũng, thấy Khổng Tử khen Nhan Uyên, bèn hỏi: Nếu thầy thống lĩnh ba quân thì thầy sẽ cộng sự với ai? Khổng Tử đáp: Bạo hổ bằng hà, tử nhi vô hối giả, ngô bất dự dã  , , , nghĩa là tay không mà bắt cọp, không dùng thuyền mà dám vượt sông, đó là hạng chết cũng không biết hối, ta không cùng làm việc với họ.

Nghĩa bóng: Chỉ người có sức lực, nhưng không có mưu trí.



Tính hay bạo hổ đã quen,

Dám tìm chuột bạch đánh ghen tận nhà.

(Truyện Trinh Thử).



BẠO NGƯỢC 

Bạo: Hung tợn. Ngược: Ngang ngược, độc ác.

Bạo ngược là tàn bạo ngang ngược, tức kẻ hung tợn độc ác.



Đừng học thói của quân bạo ngược,

Xử mẹ cha tội phước quá hơn tòa.

(Phương Tu Đại Đạo).



BẠO TẦN 

Bạo: Hung dữ ngược ngạo. Tần: Nhà Tần.

Bạo Tần chỉ nhà Tần bạo ngược, đốt sách chôn Nho, bắt dân xây Vạn Lý Trường Thành, khiến lòng người không phục, đó là dọn đường cho Lưu Bang lập nên nhà Hán.



Bạo Tần dọn chỗ sẵn cho Lưu,

Trời khiến bầy hùng dấy đuổi hươu.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).

BẠO THẦN 

Bạo: Hung dữ. Thần: Tôi.

Bạo thần là kẻ bầy tôi hung bạo. Người tôi thần đối xử với nhà vua tàn bạo.



Trịnh Hâm là https://hocday.com/thin-vn-quch-vn-ha-trong-thi-vn-nm-2011-li-ta/30102_html_6f264e0b.pngđứa bạo thần,

Giao cho quốc trạng xử phân pháp hình.

(Lục Vân Tiên).



BÁT ÂM 

Tám loại âm thanh.

Trong âm nhạc, người ta chia ra tám thứ tiếng: 1.-Bào: Tiếng sênh. 2.-Thổ: Tiếng trống đất. 3.-Cách: Tiếng trống da. 4.-Mộc: Tiếng mõ gỗ. 5.-Thạch: Tiếng khánh đá. 6.-Kim: Tiếng chuông đồng. 7.-Ty: Tiếng dây đàn. 8.-Trúc: Tiếng ống sáo tre. Tám loại âm thanh đó gọi chung là bát âm.

Nghĩa bóng: Chỉ chung về âm nhạc.



Dập dìu chốn vũ nơi ca,

Trò bày bách hí, nhịp hoà bát âm.

(Nhị Độ Mai).



Bát âm điệu mới rất hay,

Họa mi nổi tiếng xưa nay đã nhiều.

(Hoa Điểu Tranh Năng).



BÁT BỬU 

Tám món báu của Bát Tiên, tức là bửu bối của tám vị tu luyện thành Tiên ở núi Bồng Lai. Đó là: 1- Bầu Rượu của Lý Thiết Quả. 2- Quạt của Hớn Chung Ly. 3- Gươm của Lữ Đồng Tân. 4- Sanh của Tào Quốc Cựu. 5- Hoa Lam của Lâm Thái Hoà. 6- Ống Tiêu của Hàn Tương Tử. 7- Gậy của Trương Quả Lão. 8- Bông Sen của Hà Tiên Cô.



Chiếu hoa gối sách bộn bề,

Cỗ đồ bát bửu chỉnh tề chưng ra.

(Lục Vân Tiên).



BÁT CANH QUẢNG VÕ

Do điển tích: Vào thời Hán Sở tranh hùng, Lưu Bang và Hạng Võ chia đôi nước Tàu mà làm vua, Lưu Bang lên ngôi là Hán Vương, còn Hạng Võ xưng là Tây Sở Vương. Để tranh được toàn thiên hạ, Hạng Võ bắt cha Lưu Bang là Thái Công tại Quảng Võ, rồi sai người nói với Lưu Bang bảo hàng với Hạng Võ, nếu không hàng thì giết Thái Công.

Hán Vương trả lời với sứ rằng: Ta với Hạng Võ ước làm anh em với nhau, cha ta tức là cha anh ấy, nếu anh ấy muốn giết cha thì nhớ chia cho ta một bát canh. Câu nói của Hán Vương tuy liều lĩnh nhưng mạnh dạn, làm cho Hạng Võ rúng chí, tha Thái Công về và giảng hoà với nhà Hán.

Bát canh Quảng Võ ơn còn nhớ,

Chén rượu Hồng Môn lệ khó ngăn.

(Thơ Tôn Thọ Tường).



BÁT ĐỒNG 

Tám cây ngô đồng.

Do câu chuyện nhà người họ Hàn có tám người con đều làm quan to mà trước nhà ở giữa sân có trồng một cây ngô đồng. Vì thế, người ta thường nói: “Hàn gia đồng mộc  ”, nghĩa là cây ngô đồng của nhà người họ Hàn.

Đông hàng lông phượng gót lân,

Kìa nhà ngũ quế, nọ sân bát đồng.

(Nhị Độ Mai).



BÁT LOẠN 

Bát: Dẹp cho yên. Loạn: Giặc giã, trộm cướp.

Bát loạn là chỉ giặc giã, loạn lạc.



Khi bát loạn lòng ngay ít mặt,

Thuở thái bình ăn lộc nhiều người.

(Nhạc Hoa Linh).



Thuở thái bình, yển võ tu văn;

cơn bát loạn, yển văn tu võ.

(Sãi Vãi).



BÁT NƯỚC ĐẦY

Bát nước đầy đổ đi, khó hốt lại đầy.

Do Hán Sử chép: Vợ Châu Mãi Thần thấy chồng vừa đi làm việc, vừa học, nên nghĩ rằng không giàu sang nổi, bèn xin ly dị ông để ra đi. Về sau, Mãi Thần nên danh, vợ trở lại xin tái hiệp. Mãi Thần nói: Bát nước đầy đổ đi, nếu hốt lại đầy được thì mới cho tái hiệp. Vợ Mãi Thần xấu hổ, bèn tự vận chết.

Trạng rằng: Bưng bát nước đầy,

Đổ ngay xuống đất hốt rày sao xong.

(Lục Vân Tiên).



BÁT NHà

Tiếng của nhà Phật gọi trí huệ.

Từ Bát nhã là tiếng Hán, dịch âm từ chữ Phạn Prajna để chỉ trí huệ.

Trí Bát nhã được ví như con thuyền chở chúng sanh vượt qua biển luân hồi sinh tử sang đến bờ Niết Bàn giải thoát (Thuyền Bát nhã).



Trương thẳng cánh con thuyền Bát Nhã,

Cổi đau thương giải quả trừ khiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BÁT QUÁI 

Nguyên vua Thánh Phục Hy đời Thượng cổ, bắt chước theo Hà Đồ mà vạch ra tám quẻ gọi là Bát quái, gồm có: 1.- Càn, tượng cho trời. 2.- Khôn, tượng cho đất. 3.- Ly, tượng cho mặt trời. 4.- Khảm, tượng mặt trăng. 5.- Chấn, tượng cho sấm. 6.- Tốn, tượng cho gió. 7.- Cấn, tượng cho núi. 8.- Đoài, tượng cho chằm.



Lại ngỏ số ông Chu, ông Thiệu,

Dồn cửu cung, bát quái, vào một nắm tay,

(Thập Giới Cô Hồn).



BÁT TIÊN 

Tám vị Tiên tu luyện đắc đạo ở núi Bồng Lai là: 1- Lý Thiết Quả. 2-Hớn Chung Ly. 3-Lữ Đồng Tân. 4-Hàn Tương Tử. 5-Trương Quả Lão. 6-Lâm Thái Hoà. 7-Tào Quốc Cựu. 8-Hà Tiên Cô.



Rõ ràng son điểm phấn tô,

Bên tranh cửa Lão bên đồ Bát tiên.

(Tư Dung Vãn).



Trong ba ngàn, Sãi vui để một bầu;

Ngoài sáu đạo, Sãi vui với Bát Tiên;

(Sãi Vãi).



Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn,

Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.

(Truyện Kiều).



BÁT TRÂN 

Ngày xưa người Trung Quốc chế ra tám món ăn ngon và quý nhứt, gọi là Bát trân. Đó là: - Gan rồng. - Tuỷ phụng. - Thai con báo. - Đuôi cá gáy. - Chã thịt cú. - Môi đười ươi. - Bàn tay gấu. - Nhượng heo con.



Bấy giờ kinh sợ hãi hùng,

Bát trân chàng mới giải lòng cho qua.

(Truyện Trinh Thử).



BÁT VU 

Bát vu hay bình bát là cái bình đựng đồ ăn và nước uống của các vị tăng ni phái khất sĩ bên Phật giáo.

Bình bát và chiếc áo Ca sa tượng trưng cho Phật pháp, cho nên các tông đồ bên Phật giáo vị nào được thầy truyền lại hai món báu nầy (Y và bát) tức là coi như làm tổ của tông phái đó: Bên Phật, gọi là truyền y bát.

Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu,

Hiệp qui Tam Giáo hữu cầu chí chơn.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).



BẠT TUỴ SIÊU QUẦN 

Bạt Tuỵ: Trội hơn quần chúng. Siêu quần: Vượt lên trên mọi người.

Bạt tuỵ siêu quần là người vượt hẳn đám quần chúng, tức là tài giỏi hơn mọi người.



Văn là thượng sĩ danh thần,

Võ thì bạt tụy siêu quần quân trung.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BÁU NƯỚC HƯƠNG TRỜI

Bởi câu “Quốc bửu thiên hương  ”.

Báu nước do chữ quốc bửu, là quý giá nhất trong nước, ví với người trai có tài đức cao siêu. Hương trời do chữ thiên hương, ví với người con gái có tài sắc tuyệt vời. Ý nói trai tài gái sắc.

Khuôn duyên trộm nghĩ linh đời,

Giẩy giun báu nước hương trời 
sanh nhau

(Hoa Tiên Truyện).



BẮC CỰC 

Tên một ngôi sao, cũng gọi là Bắc thần hay Bắc đẩu. Sao này rất sáng trong nhóm Tiểu hùng tinh. Dùng để chỉ nhà vua.

Xem: Bắc đẩu.

Nền hoàng thành đặt vững Long biên,

Ngôi Bắc cực muôn phương đều cùng hướng.

(Tụng Cảnh Tây Hồ)



BẮC ĐẨU 

Bắc: Hướng bắc. Đẩu: Tên ngôi sao.

Bắc đẩu là một ngôi sao sáng nằm ở phương bắc. Sao Bắc đẩu là một định tinh gồm bảy ngôi sao, gọi là Thất tinh. Bốn vì sao hình cái đầu, ba sao hình cái cán hay cái chuôi.

Theo truyền thuyết, Bắc Đẩu còn là vị thần giữ bộ tử của loài người.

Thức mây đòi lúc nhạt hồng,

Chuôi sao Bắc Ðẩu thôi Ðông lại Ðoài.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



Kìa chiếu diệu bóng hồng Bắc Đẩu,

Kìa im đìm phúc hậu Nam Tào.

(Kinh Tận Độ).



BẮC ĐẨU NAM TÀO 

Tên hai vì sao mọc đối nhau ở hai hướng bắc và nam. Theo quan niệm ngày xưa, Bắc đẩu Nam tào còn là tên hai vị thần giữ bộ sinh và bộ tử của loài người.

Xem: Nam Tào Bắc Đẩu.

Phép hay biến hóa, thần thông,

Một ông Bắc đẩu, một ông Nam Tào.

Hai ông giữ sổ Thiên tào,

Mạng dân sanh tử đều vào trong tay.

(Dương Từ Hà Mậu).



Ðài thượng đồng 
xem qua Bắc Ðẩu,

Ngôi sao sáng chói thấu Nam Tào.

(Thiên Thai Kiến Diện).



BẮC ĐƯỜNG

Bắc: Phương bắc. Đường: Nhà.

Hướng bắc của ngôi nhà là phía sau nhà, nơi đàn bà con gái ở.

Kinh Thi có câu: Yên đắc huyên thảo ngôn thụ chi bối, nghĩa là sao có được cỏ huyên để trồng ở phía sau nhà.

Bắc đường nơi bà mẹ hay chỉ người đàn bà ở.



Rau tần phồn ngoài Nam giản lạnh khô,

Nhà huyên thảo sau Bắc đường quạnh quẻ.

(Tử Tế Mẫu Văn).



BẮC KHUYẾT 

Bắc: Phía bắc. Khuyết: Cái cổng trên có lầu để quan sát.

Bắc khuyết là chỗ vua ngự. Ngày xưa người ta bao giờ cũng dựng cái khuyết nằm về phía bắc để hướng về đó lạy vua, vì vua day mặt về nam.



Sửa mũ áo lạy về bắc khuyết,

Ngọn quang minh hun mát tấm trung can.

(Văn Tế Võ Tánh).



BẮC LÝ 

Bắc: Phương bắc. : Xóm, làng.

Ở tại Trường An, Kinh đô Trung Quốc ngày xưa, có xóm hướng bắc là nơi gái làng chơi tụ tập. Làng kỹ nữ do đó gọi là xóm “Bình khang” hay xóm “Bắc lý”.

Bắc lý còn là tên một khúc hát dâm ô do vua Trụ đặt ra.

Kìa Bắc lý ngựa xe xum họp,

mối tình duyên khen kẻ khéo dắt dìu.

(Phú Cổ).



BẮC NAM 

Phương bắc và phương nam.

Trong văn học, vì hai phương bắc và nam nằm đối nhau nên được dùng để chỉ sự xa cách hoặc để diễn tả sự gặp gỡ khó khăn.

Ví dụ:


Bắc năm muôn dặm đường chim,

Vì ai bèo nổi mây chìm bấy lâu.

(Hoa Tiên Truyện).



BẮC NHẠN NAM HỒNG 

Chim nhạn bay phương bắc, chim hồng bay phương nam.

Hồng nhạn là đôi chim trống và mái, thường hay bay có đôi bên nhau, nên chim nhạn bay sang bắc, chim hồng về hướng nam là có ý chỉ sự xa xôi cách trở, không bao giờ gặp nhau được.

Nghĩa bóng: Xa cách nhau, mỗi người mỗi ngã.



Khi cử gió lúc tuần mưa,

Khi mong bắc nhạn lúc đưa nam hồng.

(Thơ Bà Nhàn Khanh).



BẮC THẦN 

Bắc: Phương bắc. Thần: Ngôi sao.

Bắc thần là một tòa tinh tú ở phương bắc, còn gọi là sao Bắc cực.

Xem: Bắc cực.

Bắc thần đã mọc xê xê,

Chị em thức dậy lo nghề đi buôn.

(Ca Dao).



BẮN BÌNH

Bắn mắt hình chim sẻ trong bức bình phong, chỉ sự kén rể.

Do tích Lý Uyên, tức Đường Cao Tổ, bắn trúng mắt chim sẻ ở bức bình phong, được Đậu Nghị gả con gái cho. Ấu Học có câu: Xạ tước bình nhi trúng mục, Đường Cao đắc thê  , , nghĩa là bắn trúng mắt chim sẻ ở bình phong, ông Đường Cao Tổ được vợ.

Xem: Xạ tước bình.



Ghe phen tơ đủ lụa đầu,

Bắn bình được khách gieo cầu trái duyên.

(Song Tinh Bất Dạ).



Mảng trong thấm nghĩa nặng tình,

Để công bẻ liễu, bắn bình trượng phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BẮN DƯƠNG

Tức bắn xuyên qua lá dương liễu, chỉ tài bắn giỏi.

Do tích Dưỡng Do Cơ thời Xuân Thu, nổi tiếng về bắn cung giỏi, có thể đứng cách xa lá liễu trăm bước mà bắn trăm phát trăm trúng.

Buột miệng nuốt châu nhả ngọc,

Dang tay dơ cức bắn dương.

(Thập Giới Cô Hồn).



BẮN NHẠN VEN MÂY

Bắn nhạn lấy ý từ chữ nhạn tháp đề danh để chỉ sự đỗ đạt. Ven mây lấy ý từ hội rồng mây để chỉ sự đỗ đạt.

Bắn nhạn ven mây dùng để chỉ sự quyết tâm làm chuyện khó khăn như thi cử.

Chí lăm bắn nhạn ven mây,

Danh tôi đặng rạng, tiếng thầy bay xa.

(Lục Vân Tiên).



BẮN SẺ

Tức bắn con chim sẻ.

Do chữ “Tước bình  ” tức là chim sẻ trong bức bình phong, lấy tích trong Đường Thư: Đậu Nghị muốn tuyển chọn một chàng rể, bèn vẽ một con chim sẻ trên bức bình phong, rồi truyền rao khắp nơi, ai bắn trúng mắt chim sẻ ấy thì gả con gái cho. Nhiều người không bắn trúng, chỉ có Lý Uyên bắn ngay mắt chim, được chọn làm rể nhà họ Đậu. Sau Lý Uyên làm vua, là Đường Cao Tổ, còn con gái nhà họ Đậu được phong làm hoàng hậu.

Xem: Tước bình.



Làng cung kiếm rấp ranh bắn sẻ,

Khách phong hầu gấm ghé mong sao.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



Tài bắn sẻ trai dầu chẳng thiếu,

Thì phép hòa tiêu gái liệu cho vừa.

(Phương Tu Đại Đạo).



BĂNG GIÁ NGỌC TRẮNG

Bởi chữ “Băng thanh ngọc khiết  ” tức là trong như băng, tinh khiết như ngọc.

Băng giá ngọc trắng dùng để chỉ hành vi trong trắng, thanh cao.

Xem: Băng ngọc.



Bầu băng giá ngọc trắng ngần,

Dầu đầm giọt nước, phong trần chẳng ham.

(Tự Tình Khúc).



BĂNG HỒ 

Hồ là cái bình bằng pha lê. Băng hồ là một cái bình pha lê trong suốt, lại đựng băng giá nữa thì người ta làm sao thấy tính cách trong trắng của nó được.

Nghĩa bóng: Chỉ tâm trong sạch như câu thơ Đường như sau: Lạc Dương thân hữu như tương vấn, Nhứt phiến băng tâm tại ngọc hồ  , , Lạc Dương thân hữu như cùng hỏi, Một tấm lòng băng tại ngọc hồ.

Băng hồ rơi xuống lầm than

(Tự Tình Khúc).



BĂNG LUÂN 

Băng: Giá tuyết. Luân: Bánh xe.

Băng luân tức là bánh xe băng giá hay vòng tròn tuyết giá. Tô Thức có câu: Tuyết phong khuyết xứ dũng băng luân  , nghĩa là mặt trăng nhô lên từ chỗ khuyết đỉnh núi tuyết.

Nghĩa bóng: Chỉ mặt trăng.

Băng luân một tấm lộng khơi,

Non sông muôn nước bóng ngời lòng soi.

(Dương Từ Hà Mậu).



BĂNG NGỌC 

Băng ngọc là trong trắng như băng, tinh khiết như ngọc, dùng để chỉ hành vi trong sạch thanh cao.

Băng ngọc còn có thể hiểu “Băng tâm tại ngọc hồ  ”, là một mảnh lòng băng tại hồ ngọc, dùng để chỉ tấm lòng thuỷ chung trong trắng.

Xem: Băng giá ngọc trắng.



Đan tâm còn chút gọi là,

Giữ gìn băng ngọc đừng pha bụi trần.

(Tự Tình Khúc).



BĂNG NHÂN 

Băng: Giá, nước gặp lạnh đông lại. Nhân: Người.

Băng nhân là người làm mai mối như chữ môi nhân .

Do điển tích: Linh Hồ Sách là một tri huyện nằm mộng, thấy mình đứng trên tấm băng trò chuyện cùng người đứng dưới phiến băng. Hôm sau, thức dậy mới đoán rằng: Đứng trên băng thuộc dương, đứng dưới băng thuộc âm, mà âm dương tức chỉ vợ chồng. Hồ Sách đứng nói chuyện để liên lạc giữa âm dương là người làm môi giới vậy.

Về sau, băng nhân được dùng để chỉ người làm mai mối.



Sự lòng ngỏ với băng nhân,

Tin sương đồn đại xa gần xôn xao.

(Truyện Kiều).



Ngỏ lời cậy với băng nhân,

Nói sao êm đẹp mười phần cho nên.

(Ngọc Kiều Lê).



BĂNG TUYẾT 

Băng: Nước lạnh đông lại. Tuyết: Hơi nước trên không gặp lạnh đông lại và rơi xuống.

Băng tuyết tức là băng giá, để chỉ sự trong sạch.

Xem chữ : Băng hồ.

Ngần ngừ nàng mới thưa rằng:

Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong.

(Truyện Kiều).



Trông vời trời bể mênh mang,

Đem thân băng tuyết gửi hàm giao long.

(Hoa Tiên Truyện).



Đuốc hoa muốn vẹn tình băng tuyết,

Nào phải trăng hoa khéo ởm ờ.

(Thơ Chu Mạnh Trinh).



BẰNG BAY CÔN NHẢY

Bằng là chim đại bàng, một loài chim to lớn, côn là cá côn, như cá kình rất lớn, ví với người có chí lớn, bay nhảy tung hoành.

Trong Nam Hoa Kinh, Trang Tử Viết: Bắc Minh hữu ngư, kỳ danh vi côn, bất tri kỷ thiên lý dã, hoá vi điểu kỳ danh vi bằng  , , , , nghĩa là bể bắc có con cá tên là cá côn lớn không biết là mấy nghìn dặm, hóa làm con chim, tên là chim bằng, lưng như núi Thái sơn, cánh như đám mây rủ trên trời. Đó là hai vật lớn nhất trên cạn và dưới nước.

Bằng bay côn nhảy ví với người có chí lớn vì tương lai sự nghiệp mà bay nhảy tung hoành.



Nghĩ trong tảo vãn cũng là,

Bằng bay côn nhảy còn chờ hội sau.

(Nhị Độ Mai).



BẰNG HỮU 

Bằng hữu là bạn bè.

Người xưa quan niệm rằng: Nữ vô minh kính, bất tri diện thượng tinh thô; sĩ vô lương hữu, bất tri hành bộ khuy du  , ; , , nghĩa là người đàn bà nếu chẳng có gương trong để soi mặt thì làm sao biết mặt mình dơ, hay sạch. Kẻ sĩ nếu chẳng có bạn hiền, thì ai mách cho mình những lỗi lầm. Như vậy việc kết bằng hữu rất cần thiết, nhưng muốn giao thiệp bạn bè, phải chọn người hiền lương, tín cẩn. Cách chọn bạn của cổ nhân thường rất kỹ lưỡng, bởi họ cho rằng: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

Khi bạn bè đã kết nguyền với nhau rồi, ta phải có lòng thành thật đối đãi với nhau, phải tin cậy và kính nhường để giữ niềm hòa ái, tương trợ tương thân. Anh em phải khuyên bảo nhau, giúp đỡ lẫn nhau, nếu có lỗi lầm, phải sửa đổi lẫn nhau, nghèo nàn phải thương yêu nhau, hoạn nạn phải cứu giúp nhau.



Dốc tình bằng hữu chu tuyền,

Nghĩa Hồng nhạn vẫn còn truyền xưa nay.

(Hoa Điểu Tranh Năng).



Anh em bằng hữu kết nguyền,

Một lòng tin cậy phải kiêng phải vì.

(Kinh Sám Hối).

BAN SIÊU 

Người đời Đông Hớn, tự là Trọng Thăng, nhà rất nghèo, nhưng có chí lớn, thường đi viết mướn lấy tiền ăn học và nuôi mẹ già, không màng khó nhọc. Lắm lúc bực tức, ném bút mà than rằng: Đại trượng phu phải đeo cung mang đao theo gương Phó Giới Tử và Trương Khiên lập công danh ở miền biên thuỳ để được phong hầu, chứ lẽ đâu lại theo nghiên bút mà tàn lụi bao giờ.

Sau Ban Siêu đầu quân đánh giặc ở miền Tây Vực, thu phục hơn năm mươi nước nhỏ, được phong làm Định Viễn Hầu.

Những tài tót núi nhảy sông,

Sánh cùng Tôn Vũ sức cùng Ban Siêu.

(Thiên Nam Ngữ Lục).



BAN THỊ 

Tức nàng Ban làm chức Tiệp dư đời vua Thành Đế nhà Hán. Vua Thành Đế muốn nàng Ban Tiệp dư ngồi chung xe phượng liễn đi chơi chốn hậu đình, nàng đều từ chối.

Sau bị nàng Triệu Phi Yến gièm pha, bà sợ hại thân, bèn xin vua cho theo hầu bà Thái Hậu, mẹ vua ở cung Trường Tín.

Xem: Nàng Ban.



Chối liễn phượng chẳng ngồi,

Ban Thị sự đà sau thấy;

Chống muôn hùng nào ngại,

Phùng Cơ lòng hãy xa ngừa.

(Cung Trung Bảo Huấn).



BAN TRÚC 

Ban: Có vằn lốm đốm. Trúc: Cây trúc, cây tre.

Ban trúc là tên một thứ trúc có vằn lốm đốm, được người ta dùng làm quạt. Do đó, loại quạt này được gọi là quạt Ban trúc.



Nón kiển hàng, sãi sắm một cái cho xinh ghê,

Quạt ban trúc, sãi sắm một cây cho báu riết.

(Sãi Vãi).



BÁN KHAI 

Bán: Phân nửa. Khai: Mở mang.

Bán khai là mới mở mang được phân nửa, chỉ những dân tộc còn chậm tiến, chưa được khai hoá hoàn toàn.



Văn minh rày đã bán khai,

Mà đây còn hãy như đời Hùng Vương.

(Thơ Tản Đà).



BÁN NƯỚC CẦU VINH

Bởi câu “Mãi quốc cầu vinh  ”.

Làm dân không giúp ích gì cho đất nước, trái lại vì muốn cầu sự vinh hiển mà làm những việc có hại cho quốc gia, hoặc thông đồng với ngoại bang phản lại đất nước, đó gọi là bán nước cầu vinh.

Quân cường Minh đã thừa cơ tứ ngược.

Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh,

(Bình Ngô Đại Cáo).



BÁN NGUYỆT MUA HOA

Nguyệt hoa là trăng hoa, chỉ sự tư tình giữa trai gái, sự ăn chơi đàn điếm.

Bán nguyệt mua hoa là nói hạng gái lầu xanh, chuyên đem việc trăng hoa ra mua bán.

Xem: Buôn hương.



Chỉ những phường bán nguyệt mua hoa,

Đưa hơi quyển ngâm nga trêu sắc gái.

(Phương Tu Đại Đạo).



BÁN TÍN BÁN NGHI 

Bán tín: Nửa tin tưởng. Bán nghi: Nửa nghi ngờ.

Bán tín bán nghi là nửa tin nửa ngờ, tức chưa tin tưởng hoàn toàn.



Nguyệt Nga bán tín bán nghi,

Đánh liều nhắm mắt theo đi về nhà.

(Lục Vân Tiên).



BÁN TỬ 

Bán: Phân nửa. Tử: Con.

Bán tử dùng để chỉ con rể, xem gần như là con.

Trong Đường Thư có câu: Tích vi huynh đệ, kim tế bán tử dã. Bệ hạ nhược hoạn Tây Nhung tử, thỉnh dĩ binh trừ chi  , 婿 , 西 , , nghĩa là trước kia là anh em, bây giờ là con rể, con một nửa rồi. Bệ hạ nếu có lo về con ở Tây Nhung này, thì xin dùng binh mà trừ đi.

Cậy người môn lại thưa lời,

Đưa tin bán tử họ Mai sang hầu.

(Nhị Độ Mai).



BÀN CANH 

Tên một ông vua đời nhà Thương.

Nhà Thương đóng đô ở Hạ Bắc đã lâu đời, chính sự đã suy tàn, đến đời vua Bàn Canh muốn thay đổi vận nước, mới thiên đô về kinh đô cũ của Thành Thang, nên khiến dân tình ta thán vì phải bỏ cửa bỏ nhà đi theo. Nhà vua mới làm ba thiên Bàn Canh để an ủi dân tình.

Học thói Bàn Canh nấu chín Thang.

(Thơ Nguyễn Khuyến).



BÀN CỔ 

Theo truyền thuyết của Trung Quốc thì Bàn Cổ là tên một ông vua thuỷ tổ của loài người.

Tương truyền, khi trời đất đã định vị thì vua Bàn Cổ đã xuất hiện trị đời.

Vua Bàn Cổ mở lò tạo hoá,

hồng mông đà lẽo đẽo thêm xuân;

họ Hữu Ngu khoi mạch sơn xuyên,

cương giới vẫn rành rành như tạc.

(Ngã Ba Hạc Phú).



Pháp bèn cất tiếng hét lên,

Mời ông Bàn Cổ tọa thiền chứng miêng.

(Lục Vân Tiên).



BÀN ĐÀO 

Tên một loại đào Tiên của bà Tây Vương Mẫu.

Theo sách Hán cổ sử: Vua Hán Võ Đế cầu bà Tây Vương Mẫu, được ban cho bốn quả đào Tiên và cho biết rằng: Cây bàn đào ba ngàn năm mới nở hoa, ba ngàn năm nữa mới kết quả, ăn được một quả thì sống đời đời.

Người dâng thánh thọ vô cương,

Bàn đào chánh nhụy thiên hương đầy toà.

(Tư Dung Vãn).



Rượu cúc Bàn Ðào chờ hội ẩm,

Thuốc Tiên lò tạo giữ sanh tồn.

(Đạo Sử).



BÀN GIAO 

Bàn: Cứu xét kỹ càng. Giao: Trao đổi cho nhau.

Khi thay đổi về chức vụ, người cũ xem xét lại hồ sơ, giấy tờ để trao lại cho người mới, đó gọi là bàn giao.



Phu nhân công tử xuống thoàn,

Mai công ở lại đợi còn bàn giao.

(Nhị Độ Mai).



BÀN HOÀN 

Bàn hoàn có nghĩa là loanh quanh, bịn rịn, hay do dự không quyết định.



Nàng rằng: Thiên tải nhất thì,

Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.

(Truyện Kiều).



Nỗi riêng riêng những bàn hoàn,

Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn

(Truyện Kiều).



Sá chi nửa cánh hoa tàn,

Tình kia ý nọ bàn hoàn nữa chi.

(Truyện Trinh Thử).



BÀN KHÊ

Khương Tử Nha lúc còn hàn vi ngồi câu cá ở sông Vị tại Bàn Khê. Sau vua Văn Vương nhà Châu đi săn bắn, gặp ông rước về tôn làm thầy. Ông đã giúp cho vua Văn Vương và Võ Vương dựng nên nghiệp nhà Châu.



Nọ nọ Bàn Khê công nghiệp cả,

Xuân thu lần kể tám mươi dư.

(Hồng Đức Quốc Âm).



Lữ dù chưa gặp xe Văn,

Câu kia chưa dễ buông cần Bàn Khê.

(Ngoạ Long Cương Vãn).



BẢN SƯ 

Hay “Bổn sư”, có nghĩa là thầy ta.

Đức Phật Thích Ca là Tổ và khai sáng ra Phật Giáo, nên những tín đồ theo đạo Phật đều gọi là Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bản sư rồi cũng đến sau,

Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.

(Truyện Kiều).



BẠN KIM LAN 

Bạn: Bè bạn. Kim lan: Vàng và hoa lan.

Bạn kim lan bạn bè giao du thân thiết, tình nghĩa bền chặt như vàng, khí vị thơm như hoa lan.



Bàn riêng mấy bạn kim lan,

Phường ta bất quá sàn sàn bực trung.

(Nhị Độ Mai).



BẠN LOAN 

Bạn: Bè bạn. Loan: Chim loan.

Bạn loan là đôi chim loan làm bạn không rời nhau.

Nghĩa bóng: Chỉ bạn tình, hay vợ chồng.

Đã trồng bạch bích dành đây,

Còn chờ bói phụng chưa vầy bạn loan.

(Quan Âm Thị Kính).



BẠN LỮ 

Bạn: Bè bạn. Lữ: Bạn.

Bạn lữ tức là cùng trang lứa làm bạn bè với nhau.



Giang hồ bạn lữ câu tan hiệp,

Tùng cúc anh em cuộc tỉnh say.

(Thơ Nguyễn Công Trừ).



Mãn kiếp những nỗi mình, mình xử,

Nào 
mong chi bạn lữ giúp nên.

(Phương Tu Đại Đạo).



Dầu kén chọn vào hàng bạn lữ,

Nên cho em hạng thứ trên người.

(Phương Tu Đại Đạo).



BẠN NGHỊCH 

Bạn: Làm phản. Nghịch:Trái ngược.

Bạn nghịch là kẻ làm loạn, làm phản. Đồng nghĩa với chữ phản nghịch.



Vua Đường cất lấy xem qua,

Mới hay bạn nghịch ấy là Bá Cao.

(Nhị Độ Mai).



BẠN TÁC

Bạn tác tức là bạn bè cùng tuổi tác, cùng trang lứa với nhau.



Xảy đâu bạn tác vừa ra,

Trực cùng Hâm, Kiệm xúm cùng đưa Tiên.

(Lục Vân Tiên).



Mình dầu đồng bạn tác cùng quan,

Đừng hổ phận bần hàn cha mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).



BÀNG CỬ 

Bàng Cử là hiệu của Nhạc Phi.

Nhạc Phi là một danh tướng đời Tống, sanh ở huyện Thang Âm, làm đến chức Ðại Nguyên Soái đời vua Cao Tông. Ông một lòng tận trung báo quốc, đem quân đi đánh thắng nước Liêu, bảo vệ bờ cõi, nhưng vua Cao Tông hôn ám, dùng kẻ gian thần là Tần Cối làm Tể Tướng, để Tần Cối gièm pha hãm hại giết chết Nhạc Phi.

Xem: Nhạc Phi.



Tam ưu Bàng Cử trắng đầu non,

Mua lấy chức quan đức phải mòn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).



BÀNG QUYÊN 

Người nước Nguỵ đời Chiến Quốc, cùng Tôn Tẩn học một thầy là Quỷ Cốc Tiên Sinh, nhưng thua tài Tôn Tẩn, nên thường tìm cách hãm hại. Bàng Quyên làm quân sư cho Nguỵ Huệ Vương, cầm quân đánh đâu thắng đó nên sinh ra kiêu căng ngạo mạn.

Sau Tôn Tẩn giúp Tề, đem quân dụ Bàng Quyên tới Mã Lăng rồi cho phục binh bắn chết theo lời thề.

Xem Tôn Tẩn.



Cười người Tôn Tẩn không lừa,

Trước đà thẫy máy chẳng ngừa Bàng Quyên.

(Lục Vân Tiên).



BÀNG SINH 

Bàng: Một bên. Sinh: Chỉ sinh vật.

Bàng sinh là một sinh vật thuộc loài vật hạ đẳng hơn súc vật như cá cua, tôm, ốc…



Hoặc đọa địa ngục, Tu la,

Làm thân ngạ quỉ cùng là bàng sinh.

(Hứa Sử Tân Truyện).



BẢNG HỔ

Do chữ “Hổ bảng  ”.

Đời nhà Mãn Thanh nước Trung Hoa chỉ võ khoa là hổ bảng.

Ở Việt Nam, Long bảng (Trên bảng có vẽ rồng) đề tên những người đậu Tiến sĩ; Hổ bảng (Vẽ cọp) đề tên những người đậu Cử nhân; Mai bảng (Vẽ cây mai) đề tên những người đậu Tú tài.



Chẳng hay bảng hổ không danh,

Huyện quan cũng khỏi Nho sanh chê cười.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



Trời xanh đâu phụ người văn học,

Bảng hổ đề danh mới sướng cho.

(Thơ Bùi Hữu Nghĩa).



BẢNG HÙM

Do chữ “Hổ bảng  ”, tức là bảng có vẽ hình con cọp, dùng để ghi tên những người thi đỗ cử nhân.

Bảng hùm ở nhà Thanh, Trung Hoa còn dùng để chỉ những người thi đậu về võ khoa.

Xem: Bảng hổ.



Đất bằng một tiếng sấm vang,

Bảng hùm tỏ phạm, tháp nhàn diễn Trương.

(Sơ Kính Tân Trang).



BẢNG MAI 

Bảng mai hay mai bảng là bảng ghi tên những người thi đỗ trong kỳ thi Hội. Bởi vì thi Hội được tổ chức vào mùa xuân khi hoa mai nở lúc cuối tháng chạp, đầu tháng giêng Âm lịch.



Hội xuân đầu chiếm bảng mai,

Cám công đèn sách dùi mài bấy lâu.

(Lưu Nữ Tướng).

BẢNG NHÃN 

Ngày xưa khoa thi Tiến sĩ có ba bực: Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa. Như vậy, Bảng nhãn là đỗ vào bậc thứ hai của khoa Đình thí, dưới bậc Trạng nguyên.



Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa,

Kẻ kinh, người trại cũng là tài danh.

(Quốc Sử Diễn Ca).



Trước đền đứng lặng đầu ngao,

Dương Trân Bảng Nhãn, Bửu vào Thám hoa.

(Dương Từ Hà Mậu).



BẢNG RỒNG

Rồng là loài vật linh, thường dùng để chỉ nhà vua.

Bảng rồng là bảng dùng để ghi tên những người thi đỗ trong các khoa thi do nhà vua tổ chức.

Khen cho gái biết tìm chồng,

Đuốc hoa lại đợi bảng rồng mới toan.

(Thanh Hoá Quan Phong).



Bảy mừng học sĩ quyết khoa,

Chuyên cần lập nghiệp tên ra bảng rồng.

(Thanh Hoá Quan Phong).



BẢNG THU 

Bảng niêm yết những người thi đỗ vào mùa thu. Ngày xưa thi hương thường tổ chức vào mùa thu.



Bảng thu sớm sớm đề tên,

Tiện đường sớm lại ruỗi liền hội xuân.

(Hoa Tiên Truyện).



BẢNG VÀNG

Do chữ “Kim bảng  ”, tức là bảng có thếp vàng, đề tên những vị tân khoa đỗ Tiến sĩ trong thời khoa cử ngày xưa của Việt Nam.

Xem: Kim bảng.

Phước thừa muôn đội tông môn,

Bảng vàng may trộm chữ son tên đề.

(Truyện Phan Trần).



Xin vâng, nhưng hãy xin chờ,

Bảng vàng rồi sẽ đuốc hoa cũng vừa.

(Nhị Độ Mai).



Hai chàng đi tới Tấn bang,

Vào trường thi hội, bảng vàng đỗ cao.

(Dương Từ Hà Mậu).



Trời sao nỡ phụ tài lành,

Bảng vàng chưa thấy ngày xanh đã mòn.

(Lục Vân Tiên).



BẢNG VÀNG BIA ĐÁ

Bảng vàng do chữ “Kim bảng  ”, tức là bảng có thếp vàng, để đề tên những sĩ tử được thi đỗ. Bia đá dùng để khắc tên những người thi đậu.

Bảng vàng bia đá chỉ những người thi đỗ trong chế độ khoa cử ngày xưa.

Tới năm mươi tuổi đã vừa,

Bảng vàng bia đá, quan đưa tận nhà.

(Huấn Nữ Ca).



BẢNG XUÂN

Do chữ “Xuân bảng  ” tức là bảng chép tên những người thi đỗ Tiến sĩ của kỳ thi Hội, được tổ chức vào mùa xuân.



Bảng xuân nay đã dự mừng,

Muôn hồng nghìn tía tưng bừng đón ai.

(Truyện Phan Trần).



Giao rằng chiếm được bảng xuân,

Trở về rồi sẽ hôn nhân kết nguyền.

(Nữ Tú Tài).



Tình cờ chiếm được bảng xuân,

Ấy là phú quý đầy sân quế hoè.

(Thanh Hoá Quan Phong).



BẠNG CÒ

Tức con trai và con cò, bởi câu “Bạng duật tương trì  ”, nghĩa là con trai và con cò níu kéo, giằng co nhau. Ý nói hai người tranh nhau, khiến người thứ ba được lợi.

Xem: Bạng duật.

Sẩy đàn tan nghé bơ vơ,

Bạng khoe sức bạng,  khoe sức cò.

(Thiên Nam Ngữ Lục).



BẠNG DUẬT 

Như chữ “Bạng duật tương trì  ”, nghĩa là con trai và con cò níu kéo nhau.

Con trai há mồm phơi nắng, con cò mổ vào ruột trai, trai liền ngậm lại, kẹp mỏ cò. Hai đàng giằng co với nhau thì có ông câu được lợi, bắt cả trai lẫn cò.

Nho có câu: Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi tiếu hi hi  , , (trai cò giằng co, ông câu bắt được cười ha hả).



Dằng dai bạng duật bao lâu,

Bóng ô hè giục sang thâu bấy chầy.

(Hoa Tiên Truyện).



Thế bạng duật đương còn đối mặt,

Thói đường lang sao khéo lắng tai.

(Hịch Tây Sơn).



BẠNG GIÀ SINH CHÂU

Bởi câu “Lão bạng sinh châu  ”, tức là con trai già sinh ra ngọc, ý muốn nói người già sinh ra con quý, chỉ điềm tốt.



Thú vui nửa thú ngư hà,

Rùa linh đội sách, bạng già sinh châu.

(Tư Dung Vãn).



BÀNH TỔ 

Bành Tổ là người đời Đường Nghiêu, họ Tiền tên Kiên, cháu của vua Xuyên Húc, được phong chức ở Bành Thành, nên người ta gọi ông là Bành Tổ.

Tương truyền Bành Tổ là người sống lâu, từ đời nhà Hạ đến nhà Ân, tính ra hơn 800 năm.

Làm chi nghiêng ngửa duỗi co,

Như ông Bành Tổ riêng lò hóa công.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



Chòm rong lộp xộp râu Bành Tổ,

Kẹt đá gio gie nướu Tử Nha.

(Thơ Huỳnh Mẫn Đạt).



BÀNH THÀNH 

Vào đời Xuân Thu, Bành Thành là một ấp của nước Tống. Sau nước Tần đặt thành huyện, nay là Từ Châu Thị, thuộc tỉnh Giang Tô.



Thiền cao chưa đủ đỡ muôn linh,

Như thuở Hạng Vương ở Bành Thành.

(Đạo Sử).



BÀNH TRẠCH 

Tên một huyện thuộc tỉnh Giang Tây, nơi Đào Uyên Minh, đời nhà Tấn đã từng là Huyện lệnh ở đây.

Xem: Đào Tiềm.

Cuộc cờ chén rượu cung đàn,

Thơ ngâm Bành Trạch, tranh vờn Tiêu tương.

(Sơ Kính Tân Trang).



BÀNH VIỆT

Bành Việt tự là Trọng, người Xương Ấp, nay thuộc tỉnh Sơn Đông. Trước Bành Việt theo thờ Hạng Võ, sau về với Hán Cao Tổ, lập được nhiều công to. Khi đất nước được thống nhất, Bành Việt bị vua Hán Cao Tổ tru di tam tộc.



Thưa rằng: Bành Việt Lương Vương,

Xem dường dung mạo có phương hơn người.

(Trọng Tương Vấn Hớn).



BAO BIẾM 

Bao: Khen. Biếm: Chê.

Bao biếm là khen và chê.

Người đời sau nói về kinh Xuân Thu của Đức Khổng Tử như sau: Nhất tự chi bao, vinh ư hoa cổn; nhất tự chi biếm, nhục ư phủ việt  , , , , nghĩa là một chữ khen, thì vinh hơn cái áo hoa cổn của vua ban cho, một chữ chê thì nhục hơn là tội bị rìu búa.

Hơn thua trối mặc đời bao biếm,

Nửa kiếp dầu qua hết lấn chen.

(Đạo Sử).



BAO CHỬNG 

Tên gọi là “Bao Công  ”, tự là Hy nhơn, người ở đất Hiệp Phì đời nhà Tống. Ông là người có tiếng xét án giỏi, vụ án dầu bí mật và bao lâu, ông đều xử ra manh mối.

Bao Chửng là người rất ngay thẳng, giữ gìn luật pháp rất nghiêm minh, nên những kẻ quyền quý hay hoạn quan đều rất nể sợ.

Bao Chửng làm đến chức Khu Mật Phó Sứ, từng xử nhiều vụ án ly kỳ được chép ở sách Bao Công Kỳ Án.



Ở đài các giữ lòng Bao Chửng,

Nhiệm Tướng Khanh thì thói Nguỵ Trưng.

(Quốc Âm Thi Tập).



BAO DUNG 

Bao: Trùm lên. Dung: Tha thứ.

Bao dung là chỉ người có lòng độ lượng, hay tha thứ bảo bọc kẻ khác.



Lượng bao dung dầu quyết hẹp hòi,

Tư minh đạt có đâu lầm lỗi.

(Tần Cung Nữ).



BAO QUẢN

Bao là đâu, há không, thế nào. Quản là ngại.

Bao quản là chẳng ngại gì, há ngại sao, không nệ gì…Bao quản là tiếng dùng để chỉ tâm lý của người an phận, cam chịu khi gặp nghịch cảnh đòi hỏi hy sinh.

Thân lươn bao quản lấm đầu,

Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa!

(Truyện Kiều).



Phận bèo bao quản nước sa,

Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.

(Truyện Kiều).

Búa rìu bao quản thân tàn,

Nỡ đầy đọa trẻ, càng oan khốc già.

(Truyện Kiều).

BAO TỶ 

Bao Tỷ hay Bao Tự là người phi sủng ái của Châu U Vương. Sau U Vương phế Thân Hoàng Hậu để lập Bao Tỷ làm chánh cung. Vì ham mê sắc đẹp của Bao Tỷ mà vua U Vương không thiết với chính sự đến nỗi sau phải mất nước. Xem: Bao Tự.



Trà mi kém sắc hơn hường,

Tiếng cười Bao Tỷ hơn hờn Phan Vương.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BAO TÓC

Bởi chữ “Đối phu phong phát  ” tức là bao tóc đợi chồng.

Đường Thư chép: Ông Giả Trực Ngôn là một vị quan, vì có công việc mà phạm tội bị đày đi Lĩnh Nam, bèn từ biệt cùng vợ là bà Đổng Thị rằng: Sự sống chết không thể hẹn kỳ, nay tôi bị tội đày 20 năm, ra đi không biết sống chết thế nào, nàng ở lại nên tái giá để nương tựa tấm thân! Vợ khóc mà không đáp lại, chỉ lấy dây buộc tóc, bao ngoài bằng vải lụa, nhờ Trực Ngôn viết lên rằng: Phi quân thủ bất giải  , có nghĩa là chẳng phải tay chàng, không mở.

Sau đó, Trực Ngôn bị đi đày, Hai mươi năm sau mới được trở về, chữ và lụa trên đầu vợ còn rành rạnh, đến khi đem nước nóng gội tóc, tóc rụng tất cả. Thật là “trinh tiết” đáng khen!

Người đời sau khen rằng: Đổng Thị đối phu phong phát, trinh tiết kham khoa  , , nghĩa là bà Đổng Thị đối chồng bao tóc, trinh tiết thật đáng khen.

Dưới trăng bóng ngọc còn nguyên,

Ôm bình, bao tóc sang hèn cũng cam.

(Kinh Thế Đạo).



Thiếp cam bao tóc thờ chàng,

Rót chung ly biệt đôi hàng lụy sa!

(Kinh Thế Đạo).



BAO TỰ 

Bao Tự hay Bao Tỷ là một người con gái đẹp đời Chiến Quốc, do Bao Hồng Đức xuất vải lụa mua để tiến vào cung cho Châu U Vương đặng xin tội cho cha là Bao Quýnh.

Bao Tự vào cung được vua U Vương sủng ái, phế Thân Hoàng hậu và Thái Tử Nghi Cửu để lập Bao Tự làm Chánh cung Hoàng hậu và con là Bá Phục làm Thái Tử. Bao Tự có gương mặt rất đẹp, nhưng luôn luôn buồn ủ dột, không khi nào có một nụ cười. Biết nàng thích nghe tiếng lụa xé, U Vương truyền xuất cả trăm cây lụa trong kho để xé cho Bao Tự nghe. Nghe qua mặt nàng chỉ tươi một chút mà không cười.

Tại Ly Sơn thời ấy có đắp một cái đài gọi là Phong Hoả Đài, khi nào Kinh thành có loạn thì đốt lửa trên ấy để báo cho các chư hầu biết mà đem binh về cứu viện. Để làm vừa lòng U Vương, Quách Thạch Phủ bèn dâng kế cho đốt lửa Phong Hoả Đài, đánh lừa chư hầu mà làm trò cười cho Bao Tự.

Vua U Vương nghe theo, truyền đốt Phong Hoả Đài, lửa bốc lên cao, chư hầu vội vàng kéo quân đến nườm nượp. Khi tới nơi thấy không có giặc giả, chỉ có U Vương và Chánh hậu bày tiệc uống rượu, chư hầu xẻn lẻn cuốn cờ xếp giáo, kéo nhau ai về xứ nấy. Chừng đó Bao Tự thích chí đứng dựa lan can mà cười ngất.

Sau đó, Thân hầu keo binh đánh kinh đô, U Vương truyền đốt Phong Hoả Đài, nhưng chư hầu sợ bị lừa lần nữa, nên không ai đem binh tiếp cứu. Kết quả, Châu U Vương và Bao Tự đều bị giết chết.



Ly Sơn cười một phút,

Bao Tự kia lầm hết chư hầu.

Vị Thuỷ đòi phen,

Dương Phi nọ độc hòa thiên hạ.

(Cung Trung Bảo Huấn).



Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi,

Tôi yêu Ly Cơ hình nhịp nhàng.

(Nhị Hồ, Thơ Xuân Diệu).



BÁO ÁC 

Báo ác tức là làm điều ác đức, hung dữ sẽ gặp phải việc chẳng lành.



Tích Hiền có câu: Thiện hữu thiện báo, Ác hữu ác báo. Nhược hoàn bất báo, Thời thần vị đáo 
, . ,  , nghĩa là lành có lành báo, dữ có dữ báo. Nếu như chưa thấy báo, thì do thời giờ chưa đến mà thôi.

Ở hiền thì lại gặp lành,

Ở ác báo ác rành rành chẳng sai.

(Ca dao).



BÁO ÂN CHÂU 

Theo sách Tam Tần Ký chép: Ngày xưa, có người câu cá ở hồ Côn Minh, giật lên đứt nhợ, lưỡi câu còn nằm nơi miệng cá.

Cá thoát chết, bèn cho vua Hán Văn Đế nằm mộng, nhờ vua đến hồ lấy giúp lưỡi câu trong miệng. Hôm sau, vua ra chơi ở hồ quả nhiên thấy một con cá lớn còn vướng sợi nhợ. Vua bắt cá, gỡ giúp lưỡi câu ở miệng, rồi thả đi.

Một ngày kia, vua chơi bên hồ nhặt được hai hạt minh châu lớn, đẹp. Vua cho rằng: Đó là cá báo ơn.



BÁO ÂN DĨ OÁN 

Lấy oán báo ơn.

Thói thường, người ta thường lấy điều phước đức đền đáp lại với người có ơn nghĩa với mình, đó là: “Dĩ đức báo ân” .

Nhưng ở đây, lại có những người đem điều thù hằn, oán hận để trả lại điều ơn nghĩa mà người ta đã giúp mình.



Chẳng nhớ câu “Dĩ đức hành nhân”,

Lại lấy chữ “Báo ân dĩ oán”.

(Lục Súc Tranh Công).

BÁO BỔ 

Báo: Đáp trả lại. Bổ: Làm việc có ích cho người.

Báo đáp ơn nghĩa bằng cách giúp ích cho người, tức là đền bù những lúc người ta vì mình mà cực nhọc.



Làm trai trong cõi người ta,

Trước lo báo bổ, sau lo giữ mình.

(Lục Vân Tiên).



Vậy có người hiền lo báo bổ,

Hai mươi bốn thảo dấu còn nay.

(Dương Từ Hà Mậu).



BÁO ĐỀN BA XUÂN

Bởi câu trong thơ cổ "Thùy ngôn thốn thảo tâm, Báo đáp tam xuân huy  , ", nghĩa là ai bảo rằng tấm lòng của tấc cỏ mà báo đáp được ánh sáng của ba mùa xuân. Lời của một người con đi xa nhớ mẹ.



Môn mi mong những nhờ duyên,

Ngỡ đem tấc cỏ báo đền ba xuân.

(Nhị Độ Mai).



BÁO ĐỨC THÙ CÔNG 

Báo đức: Đáp trả lại ân đức. Thù công: Đền trả công ơn.

Báo đức thù công tức là đền đáp cái ân đức và trả công ơn của người đã giúp mình.



Gẫm câu báo đức thù công,

Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.

(Lục Vân Tiên).



BÁO TIỆP 

Báo: Đem tin tức. Tiệp: Thắng trận.

Báo tiệp là báo tin cho biết đã thắng trận.



Hội rồng mây cho phỉ chí tang bồng,

Cờ báo tiệp giữa trời nam lay bướm nhẹ...

(Thơ Nguyễn Công Trứ).



BÁO ỨNG 

Báo: Trả lại. Ứng: Đáp lại.

Báo ứng là được đền trả lại những gì do chính mình đã gây tạo, như làm lành trả lành, làm ác trả ác.



Ngàn xưa mấy kẻ 
gian ngay,

Xem cơ báo ứng biết tay trời già.

(Nhị Độ Mai).



Trịnh Hâm bị cá nuốt rày,

Thiệt trời báo ứng lẽ nầy rất ưng.

(Lục Vân Tiên).



Cho hay duyên kiếp bởi trời,

Nghiệm xem báo ứng rạch ròi chẳng sai.

(Truyện Trinh Thử).



Vì chưng tựu thiểu thành đa,

Họa tai báo ứng chẳng qua mảy hào.

(Kinh Sám Hối).



BÀO ẢNH 

Bọt nước và cái bóng là hai vật rất mong manh, dùng để chỉ sự hư ảo.

Kinh Kim Cang có câu: Nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn, bào, ảnh như lộ diệc như điện ưng tác như thị quan  , , , nghĩa là các pháp hữu vi tức là việc đời như giấc chiêm bao, bọt nước và cái bóng, như giọt móc cũng như ánh sáng của chớp nhoáng thì hết thảy nên xem như vậy cả. Ý nói những sự hiện hữu trên cuộc đời này đều không được lâu bền.

Xem: Mộng ảo.



Sóng cồn cửa biển nhấp nhô,

Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh.

(Cung Oán Ngâm Khúc).



Kìa bào, kìa ảnh vút qua,

Kìa sương, kìa chớp, kìa là chiêm bao.

(Quan Âm Thị Kính).



Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,

Có chữ rằng: Vạn cảnh giai không.

(Thập Loại Chúng Sinh).



BÀO HY 

Bào Hy tức Phục Hy, vị vua thời thượng cổ theo truyền thuyết Trung Hoa, họ Phong đóng đô ở đất Trần, dạy dân biết cày bừa, chăn nuôi súc vật để đưa vào bếp nấu nướng nên được gọi là Bào Hy. Phục Hy cũng là người đầu tiên vạch ra bát quái (Tám quẻ), cơ sở của Kinh Dịch.

Theo sách Thượng Thư Đại Truyện thì Phục Hy là một vị vua thứ hai trong thời Tam Hoàng, đó là Toại Nhân , Phục Hy , và Thần Nông .

Xem: Phục Hy.



Môn rằng: Tám quẻ Bào Hy,

Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).



BÀO LẠC 

Một thứ dụng cụ dùng để tra tấn tội nhơn rất ghê gớm. Sách Liệt Nữ Truyện chép: Một cột đồng dựng đứng có bôi mỡ, bên trong đốt than cháy đỏ rực. Tội nhân bị cột vào trụ đồng cho đến chết cháy như quay.

Hình phạt này có vào thời nhà Thương do Trụ Vương nghĩ ra. Lúc ấy, Trụ vương nghe lời Đắc Kỷ bày ra hình Bào lạc để giết hại người tôi trung. Hình bào lạc này được chế ra để xử Bà Khương Hoàng Hậu.



Đao sơn kiếm thụ đầy thành,

Thuỷ lao bào lạc ngục hình gớm thay.

(Quốc Sử Diễn Ca).



Hình Bào lạc cột đồng vòi vọi,

Đốt lửa hồng ánh giọi chói lòa.

(Kinh Sám Hối).



BẢO CÁI 

Bảo: Quý báu. Cái: Cây lọng.

Bảo cái là cây lọng quý giá, chỉ cây lọng dùng để thờ trên chánh điện Phật.



Ào ào dạng bóng tường loan,

Tràng phan bảo cái giao quan âm thầm.

(Quan Âm Thị Kính).



Chuông kêu lẫn tiếng thiều rung,

Cờ xen bảo cái, tán lồng tràng phan.

(Truyện Phan Trần).



BẢO QUỐC HỘ DÂN 

Bảo quốc: Gìn đất nước. Hộ dân: Hộ nhân dân.

Bảo quốc hộ dân là gìn giữ đất nước, bảo hộ nhân dân, ý nói bảo hộ quốc gia dân tộc.



Thánh cung vạn tuế, tại thượng dương dương,

Bảo quốc hộ dân, lưu ân tích phước.

(Thanh Hoá Quan Phong).



BẠO HỔ 

Do câu “Bạo hổ bằng hà  ” tức là tay không bắt cọp, không thuyền mà lội qua sông. Ý nói làm những việc nóng nảy liều lĩnh, vô ích.

Tử Lộ là người hiếu dũng, thấy Khổng Tử khen Nhan Uyên, bèn hỏi: Nếu thầy thống lĩnh ba quân thì thầy sẽ cộng sự với ai? Khổng Tử đáp: Bạo hổ bằng hà, tử nhi vô hối giả, ngô bất dự dã  , , , nghĩa là tay không mà bắt cọp, không dùng thuyền mà dám vượt sông, đó là hạng chết cũng không biết hối, ta không cùng làm việc với họ.

Nghĩa bóng: Chỉ người có sức lực, nhưng không có mưu trí.



Tính hay bạo hổ đã quen,

Dám tìm chuột bạch đánh ghen tận nhà.

(Truyện Trinh Thử).



BẠO NGƯỢC 

Bạo: Hung tợn. Ngược: Ngang ngược, độc ác.

Bạo ngược là tàn bạo ngang ngược, tức kẻ hung tợn độc ác.



Đừng học thói của quân bạo ngược,

Xử mẹ cha tội phước quá hơn tòa.

(Phương Tu Đại Đạo).



BẠO TẦN 

Bạo: Hung dữ ngược ngạo. Tần: Nhà Tần.

Bạo Tần chỉ nhà Tần bạo ngược, đốt sách chôn Nho, bắt dân xây Vạn Lý Trường Thành, khiến lòng người không phục, đó là dọn đường cho Lưu Bang lập nên nhà Hán.



Bạo Tần dọn chỗ sẵn cho Lưu,

Trời khiến bầy hùng dấy đuổi hươu.

(Ngư Tiều Vấn Đáp).

BẠO THẦN 

Bạo: Hung dữ. Thần: Tôi.

Bạo thần là kẻ bầy tôi hung bạo. Người tôi thần đối xử với nhà vua tàn bạo.



Trịnh Hâm là https://hocday.com/thin-vn-quch-vn-ha-trong-thi-vn-nm-2011-li-ta/30102_html_6f264e0b.pngđứa bạo thần,

Giao cho quốc trạng xử phân pháp hình.

(Lục Vân Tiên).



BÁT ÂM 

Tám loại âm thanh.

Trong âm nhạc, người ta chia ra tám thứ tiếng: 1.-Bào: Tiếng sênh. 2.-Thổ: Tiếng trống đất. 3.-Cách: Tiếng trống da. 4.-Mộc: Tiếng mõ gỗ. 5.-Thạch: Tiếng khánh đá. 6.-Kim: Tiếng chuông đồng. 7.-Ty: Tiếng dây đàn. 8.-Trúc: Tiếng ống sáo tre. Tám loại âm thanh đó gọi chung là bát âm.

Nghĩa bóng: Chỉ chung về âm nhạc.



Dập dìu chốn vũ nơi ca,

Trò bày bách hí, nhịp hoà bát âm.

(Nhị Độ Mai).



Bát âm điệu mới rất hay,

Họa mi nổi tiếng xưa nay đã nhiều.

(Hoa Điểu Tranh Năng).



BÁT BỬU 

Tám món báu của Bát Tiên, tức là bửu bối của tám vị tu luyện thành Tiên ở núi Bồng Lai. Đó là: 1- Bầu Rượu của Lý Thiết Quả. 2- Quạt của Hớn Chung Ly. 3- Gươm của Lữ Đồng Tân. 4- Sanh của Tào Quốc Cựu. 5- Hoa Lam của Lâm Thái Hoà. 6- Ống Tiêu của Hàn Tương Tử. 7- Gậy của Trương Quả Lão. 8- Bông Sen của Hà Tiên Cô.



Chiếu hoa gối sách bộn bề,

Cỗ đồ bát bửu chỉnh tề chưng ra.

(Lục Vân Tiên).



BÁT CANH QUẢNG VÕ

Do điển tích: Vào thời Hán Sở tranh hùng, Lưu Bang và Hạng Võ chia đôi nước Tàu mà làm vua, Lưu Bang lên ngôi là Hán Vương, còn Hạng Võ xưng là Tây Sở Vương. Để tranh được toàn thiên hạ, Hạng Võ bắt cha Lưu Bang là Thái Công tại Quảng Võ, rồi sai người nói với Lưu Bang bảo hàng với Hạng Võ, nếu không hàng thì giết Thái Công.

Hán Vương trả lời với sứ rằng: Ta với Hạng Võ ước làm anh em với nhau, cha ta tức là cha anh ấy, nếu anh ấy muốn giết cha thì nhớ chia cho ta một bát canh. Câu nói của Hán Vương tuy liều lĩnh nhưng mạnh dạn, làm cho Hạng Võ rúng chí, tha Thái Công về và giảng hoà với nhà Hán.

Bát canh Quảng Võ ơn còn nhớ,

Chén rượu Hồng Môn lệ khó ngăn.

(Thơ Tôn Thọ Tường).



BÁT ĐỒNG 

Tám cây ngô đồng.

Do câu chuyện nhà người họ Hàn có tám người con đều làm quan to mà trước nhà ở giữa sân có trồng một cây ngô đồng. Vì thế, người ta thường nói: “Hàn gia đồng mộc  ”, nghĩa là cây ngô đồng của nhà người họ Hàn.

Đông hàng lông phượng gót lân,

Kìa nhà ngũ quế, nọ sân bát đồng.

(Nhị Độ Mai).



BÁT LOẠN 

Bát: Dẹp cho yên. Loạn: Giặc giã, trộm cướp.

Bát loạn là chỉ giặc giã, loạn lạc.



Khi bát loạn lòng ngay ít mặt,

Thuở thái bình ăn lộc nhiều người.

(Nhạc Hoa Linh).



Thuở thái bình, yển võ tu văn;

cơn bát loạn, yển văn tu võ.

(Sãi Vãi).



BÁT NƯỚC ĐẦY

Bát nước đầy đổ đi, khó hốt lại đầy.

Do Hán Sử chép: Vợ Châu Mãi Thần thấy chồng vừa đi làm việc, vừa học, nên nghĩ rằng không giàu sang nổi, bèn xin ly dị ông để ra đi. Về sau, Mãi Thần nên danh, vợ trở lại xin tái hiệp. Mãi Thần nói: Bát nước đầy đổ đi, nếu hốt lại đầy được thì mới cho tái hiệp. Vợ Mãi Thần xấu hổ, bèn tự vận chết.

Trạng rằng: Bưng bát nước đầy,

Đổ ngay xuống đất hốt rày sao xong.

(Lục Vân Tiên).



BÁT NHà

Tiếng của nhà Phật gọi trí huệ.

Từ Bát nhã là tiếng Hán, dịch âm từ chữ Phạn Prajna để chỉ trí huệ.

Trí Bát nhã được ví như con thuyền chở chúng sanh vượt qua biển luân hồi sinh tử sang đến bờ Niết Bàn giải thoát (Thuyền Bát nhã).



Trương thẳng cánh con thuyền Bát Nhã,

Cổi đau thương giải quả trừ khiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BÁT QUÁI 

Nguyên vua Thánh Phục Hy đời Thượng cổ, bắt chước theo Hà Đồ mà vạch ra tám quẻ gọi là Bát quái, gồm có: 1.- Càn, tượng cho trời. 2.- Khôn, tượng cho đất. 3.- Ly, tượng cho mặt trời. 4.- Khảm, tượng mặt trăng. 5.- Chấn, tượng cho sấm. 6.- Tốn, tượng cho gió. 7.- Cấn, tượng cho núi. 8.- Đoài, tượng cho chằm.



Lại ngỏ số ông Chu, ông Thiệu,

Dồn cửu cung, bát quái, vào một nắm tay,

(Thập Giới Cô Hồn).



BÁT TIÊN 

Tám vị Tiên tu luyện đắc đạo ở núi Bồng Lai là: 1- Lý Thiết Quả. 2-Hớn Chung Ly. 3-Lữ Đồng Tân. 4-Hàn Tương Tử. 5-Trương Quả Lão. 6-Lâm Thái Hoà. 7-Tào Quốc Cựu. 8-Hà Tiên Cô.



Rõ ràng son điểm phấn tô,

Bên tranh cửa Lão bên đồ Bát tiên.

(Tư Dung Vãn).



Trong ba ngàn, Sãi vui để một bầu;

Ngoài sáu đạo, Sãi vui với Bát Tiên;

(Sãi Vãi).



Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn,

Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.

(Truyện Kiều).



BÁT TRÂN 

Ngày xưa người Trung Quốc chế ra tám món ăn ngon và quý nhứt, gọi là Bát trân. Đó là: - Gan rồng. - Tuỷ phụng. - Thai con báo. - Đuôi cá gáy. - Chã thịt cú. - Môi đười ươi. - Bàn tay gấu. - Nhượng heo con.



Bấy giờ kinh sợ hãi hùng,

Bát trân chàng mới giải lòng cho qua.

(Truyện Trinh Thử).



BÁT VU 

Bát vu hay bình bát là cái bình đựng đồ ăn và nước uống của các vị tăng ni phái khất sĩ bên Phật giáo.

Bình bát và chiếc áo Ca sa tượng trưng cho Phật pháp, cho nên các tông đồ bên Phật giáo vị nào được thầy truyền lại hai món báu nầy (Y và bát) tức là coi như làm tổ của tông phái đó: Bên Phật, gọi là truyền y bát.

Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu,

Hiệp qui Tam Giáo hữu cầu chí chơn.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).



BẠT TUỴ SIÊU QUẦN 

Bạt Tuỵ: Trội hơn quần chúng. Siêu quần: Vượt lên trên mọi người.

Bạt tuỵ siêu quần là người vượt hẳn đám quần chúng, tức là tài giỏi hơn mọi người.



Văn là thượng sĩ danh thần,

Võ thì bạt tụy siêu quần quân trung.

(Nữ Trung Tùng Phận).



BÁU NƯỚC HƯƠNG TRỜI

Bởi câu “Quốc bửu thiên hương  ”.

Báu nước do chữ quốc bửu, là quý giá nhất trong nước, ví với người trai có tài đức cao siêu. Hương trời do chữ thiên hương, ví với người con gái có tài sắc tuyệt vời. Ý nói trai tài gái sắc.

Khuôn duyên trộm nghĩ linh đời,

Giẩy giun báu nước hương trời 
sanh nhau

(Hoa Tiên Truyện).



BẮC CỰC 

Tên một ngôi sao, cũng gọi là Bắc thần hay Bắc đẩu. Sao này rất sáng trong nhóm Tiểu hùng tinh. Dùng để chỉ nhà vua.

Xem: Bắc đẩu.

Nền hoàng thành đặt vững Long biên,

Ngôi Bắc cực muôn phương đều cùng hướng.

(Tụng Cảnh Tây Hồ)



BẮC ĐẨU 

Bắc: Hướng bắc. Đẩu: Tên ngôi sao.

Bắc đẩu là một ngôi sao sáng nằm ở phương bắc. Sao Bắc đẩu là một định tinh gồm bảy ngôi sao, gọi là Thất tinh. Bốn vì sao hình cái đầu, ba sao hình cái cán hay cái chuôi.

Theo truyền thuyết, Bắc Đẩu còn là vị thần giữ bộ tử của loài người.

Thức mây đòi lúc nhạt hồng,

Chuôi sao Bắc Ðẩu thôi Ðông lại Ðoài.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc).



Kìa chiếu diệu bóng hồng Bắc Đẩu,

Kìa im đìm phúc hậu Nam Tào.

(Kinh Tận Độ).



BẮC ĐẨU NAM TÀO 

Tên hai vì sao mọc đối nhau ở hai hướng bắc và nam. Theo quan niệm ngày xưa, Bắc đẩu Nam tào còn là tên hai vị thần giữ bộ sinh và bộ tử của loài người.

Xem: Nam Tào Bắc Đẩu.

Phép hay biến hóa, thần thông,

Một ông Bắc đẩu, một ông Nam Tào.

Hai ông giữ sổ Thiên tào,

Mạng dân sanh tử đều vào trong tay.

(Dương Từ Hà Mậu).



Ðài thượng đồng 
xem qua Bắc Ðẩu,

Ngôi sao sáng chói thấu Nam Tào.

(Thiên Thai Kiến Diện).



BẮC ĐƯỜNG

Bắc: Phương bắc. Đường: Nhà.

Hướng bắc của ngôi nhà là phía sau nhà, nơi đàn bà con gái ở.

Kinh Thi có câu: Yên đắc huyên thảo ngôn thụ chi bối, nghĩa là sao có được cỏ huyên để trồng ở phía sau nhà.

Bắc đường nơi bà mẹ hay chỉ người đàn bà ở.



Rau tần phồn ngoài Nam giản lạnh khô,

Nhà huyên thảo sau Bắc đường quạnh quẻ.

(Tử Tế Mẫu Văn).



BẮC KHUYẾT 

Bắc: Phía bắc. Khuyết: Cái cổng trên có lầu để quan sát.

Bắc khuyết là chỗ vua ngự. Ngày xưa người ta bao giờ cũng dựng cái khuyết nằm về phía bắc để hướng về đó lạy vua, vì vua day mặt về nam.



Sửa mũ áo lạy về bắc khuyết,

Ngọn quang minh hun mát tấm trung can.

(Văn Tế Võ Tánh).



BẮC LÝ 

Bắc: Phương bắc. : Xóm, làng.

Ở tại Trường An, Kinh đô Trung Quốc ngày xưa, có xóm hướng bắc là nơi gái làng chơi tụ tập. Làng kỹ nữ do đó gọi là xóm “Bình khang” hay xóm “Bắc lý”.

Bắc lý còn là tên một khúc hát dâm ô do vua Trụ đặt ra.

Kìa Bắc lý ngựa xe xum họp,

mối tình duyên khen kẻ khéo dắt dìu.

(Phú Cổ).



BẮC NAM 

Phương bắc và phương nam.

Trong văn học, vì hai phương bắc và nam nằm đối nhau nên được dùng để chỉ sự xa cách hoặc để diễn tả sự gặp gỡ khó khăn.

Ví dụ:


Bắc năm muôn dặm đường chim,

Vì ai bèo nổi mây chìm bấy lâu.

(Hoa Tiên Truyện).



BẮC NHẠN NAM HỒNG 

Chim nhạn bay phương bắc, chim hồng bay phương nam.

Hồng nhạn là đôi chim trống và mái, thường hay bay có đôi bên nhau, nên chim nhạn bay sang bắc, chim hồng về hướng nam là có ý chỉ sự xa xôi cách trở, không bao giờ gặp nhau được.

Nghĩa bóng: Xa cách nhau, mỗi người mỗi ngã.



Khi cử gió lúc tuần mưa,

Khi mong bắc nhạn lúc đưa nam hồng.

(Thơ Bà Nhàn Khanh).



BẮC THẦN 

Bắc: Phương bắc. Thần: Ngôi sao.

Bắc thần là một tòa tinh tú ở phương bắc, còn gọi là sao Bắc cực.

Xem: Bắc cực.

Bắc thần đã mọc xê xê,

Chị em thức dậy lo nghề đi buôn.

(Ca Dao).



BẮN BÌNH

Bắn mắt hình chim sẻ trong bức bình phong, chỉ sự kén rể.

Do tích Lý Uyên, tức Đường Cao Tổ, bắn trúng mắt chim sẻ ở bức bình phong, được Đậu Nghị gả con gái cho. Ấu Học có câu: Xạ tước bình nhi trúng mục, Đường Cao đắc thê  , , nghĩa là bắn trúng mắt chim sẻ ở bình phong, ông Đường Cao Tổ được vợ.

Xem: Xạ tước bình.



Ghe phen tơ đủ lụa đầu,

Bắn bình được khách gieo cầu trái duyên.